Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016

Vì sao người dùng vẫn e dè với thanh toán thông minh?

Dù đã bắt đầu chịu thanh toán online nhưng thói quen người dùng hiện nay thường giao dịch điện tử với đơn hàng có giá trị nhỏ hơn 1 triệu đồng. Khi cần mua hàng hóa giá trị cao, phần lớn chọn thanh toán tiền mặt. Nếu ứng dụng thanh toán điện tử triển khai tốt sẽ giúp khách hàng lựa chọn những sản phẩm dịch vụ có giá trị cao hơn, nghĩa là trị giá của thương mại điện tử Việt Nam sẽ tăng cao hơn nữa.Đồng quan điểm, ông Trần Hải Linh - TGĐ Công ty Ví FPT cho biết: "Thách thức lớn nhất là niềm tin và sự chọn lựa của khách hàng".
Điều này cho thấy người dùng vẫn còn e dè với dịch vụ thanh toán thông minh mà nhiều DN đổ tiền vào đầu tư.
Chìa khóa niềm tin
Đánh giá "sức khỏe" của các ví điện tử tại Việt Nam hiện nay, ông Trần Trọng Tuyến - CEO Công ty Công nghệ DKT (đơn vị sở hữu Bizweb) cho biết, về mặt công nghệ hoặc hạ tầng kỹ thuật thì các dịch vụ thanh toán trung gian của Việt Nam đã đáp ứng khá tốt. Nhưng vấn đề hiện nay là bài toán "con gà - quả trứng" giữa người mua và chủ shop (merchant).
Phần lớn các chủ shop đều muốn thanh toán online nhưng lại không có nhiều khách hàng mặn mà với hình thức này nên không thấy cần thiết tích hợp hệ thống thanh toán thông minh. Mà không nhiều cửa hàng có phương thức thanh toán trung gian nên khách hàng tiếp tục không màng đến việc sử dụng các phương thức khác ngoài COD và chuyển khoản.
Vì chưa đủ thuận lợi và tiện dụng trong việc thanh toán online nên người dùng chưa có thói quen sử dụng ví điện tử. Cảm giác tiền bị giữ ở một ví ảo trong thời gian dài nhưng không thanh toán được nhiều dịch vụ khiến người người dùng chưa mặn mà với thanh toán trung gian.
Ông Tuyến nhận định: "Cuộc đua của các đơn vị thanh toán trung gian thực chất là cạnh tranh về nguồn vốn và nguồn lực dài hơi để tạo ra số người dùng đủ lớn, hình thành thói quen thanh toán trung gian. Đây là cuộc đua về sức bền trong việc tạo ra người dùng".

Dù đã bắt đầu chịu thanh toán online nhưng thói quen người dùng hiện nay thường giao dịch điện tử với đơn hàng có giá trị nhỏ hơn 1 triệu đồng. Khi cần mua hàng hóa giá trị cao, phần lớn chọn thanh toán tiền mặt. Nếu ứng dụng thanh toán điện tử triển khai tốt sẽ giúp khách hàng lựa chọn những sản phẩm dịch vụ có giá trị cao hơn, nghĩa là trị giá của thương mại điện tử Việt Nam sẽ tăng cao hơn nữa.Đồng quan điểm, ông Trần Hải Linh - TGĐ Công ty Ví FPT cho biết: "Thách thức lớn nhất là niềm tin và sự chọn lựa của khách hàng".
"Giá trị giao dịch trên sendo.vn của chúng tôi có thể tăng 30 - 40% với sự hiện diện của Ví FPT", ông Linh tính toán.
Tuy nhiên, không dừng lại ở đó, trong thời gian tới, khách hàng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ khác của FPT như internet, dịch vụ lưu trữ dữ liệu trực tuyến Fshare, quảng cáo trực tuyến... cũng có thể sử dụng được dịch vụ này. Lúc đó, giá trị khai thác của Ví FPT sẽ cao hơn hẳn.
Cần một "ngôi vương"
Theo ông Phạm Thành Đức - TGĐ M_Service (đơn vị sở hữu ví điện tử MoMo), các nhà cung cấp đang cần dịch vụ thanh toán trung gian, nhất là việc thu hồi tiền điện nước, mua hàng trực tuyến... Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa có được hệ sinh thái hoàn chỉnh cho thương mại điện tử.
"Hệ sinh thái lại là phức tạp, tốn công sức lẫn tài lực để đầu tư. Hiện MoMo đang phải làm cho mọi thứ xảy ra đồng thời: Xây điểm giao dịch để kết nối với người đã có tài khoản ngân hàng, khách hàng", ông Đức chia sẻ.
Không chỉ vậy, thị trường thanh toán trung gian Việt Nam có đến hơn 15 đơn vị tham gia - tương đối nhiều nhưng lại chưa đáp ứng được nhu cầu thanh toán. Bởi, các đơn vị thanh toán trung gian chỉ mới có dữ liệu khách hàng nằm trong hệ sinh thái các sản phẩm dịch vụ riêng của họ mà chưa mở rộng ra toàn bộ người dùng. Do vậy, một khách hàng phải cùng lúc dùng nhiều cổng thanh toán để thanh toán các loại dịch vụ khác nhau.
"Các ví điện tử, các đơn vị thanh toán trung gian đang đi theo những hướng khác nhau và hiện tại chưa tạo ra thói quen chung cho khách hàng nên sự cạnh tranh giữa các bên hầu như chưa có. Khách hàng cần một cổng thanh toán được chấp nhận tại hầu hết các cửa hàng, ví dụ trên thế giới là Pay Pal", ông Tuyến khẳng định.
Có dịch vụ, có thị trường và đang dần có thói quen sử dụng ví điện tử, khả năng dịch vụ thanh toán trung gian phát triển là chuyện rất gần. Tuy nhiên, để ví điện tử mở được cánh cửa cho thương mại điện tử Việt Nam bước sang trang mới, các DN cung cấp dịch vụ phải tính toán lại và mạnh mẽ hơn trong chiến lược chinh phục thị trường. Bởi người dùng đang cần những đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán trung gian đủ mạnh và đủ rộng để bao phủ nhu cầu thanh toán.

Vì sao xảy ra hiện tượng cà phê Việt: Mất mùa, chưa được giá?

Hiện lượng cà phê tiêu thụ trong nước chiếm khoảng 10% trong tổng sản lượng cà phê của Việt Nam, tăng 5% so với 10 năm trước. Bà Phạm Thị Kim Dung - Trưởng nhóm phân tích ngành hàng, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (IPSARD) cho hay, đối với thị trường trong nước, các doanh nghiệp rang xay cà phê cung ứng dựa trên đơn hàng ngắn hạn và mua bán giao ngay cho các nhà bán lẻ. Nhu cầu trong nước tăng, sản lượng giảm và nguồn cung cho xuất khẩu giảm sẽ là yếu tố thúc đẩy giá cà phê xuất khẩu. Thế nhưng, thực tế là giá cà phê xuất khẩu dựa nhiều vào giá hợp đồng trước đó và các nhà giao dịch vẫn đang chờ dấu hiệu rõ rệt hơn về sản lượng cà phê Việt Nam nên giá gần như không biến động nhiều trong thời gian qua.
Theo Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa), hiện sản xuất cà phê của Việt Nam đang chịu ảnh hưởng nặng do hạn hán tồi tệ nhất trong 3 thập kỷ qua. Thiếu nước tưới trầm trọng đe dọa trên 165.000ha (gần 30% tổng diện tích trồng cà phê ở Tây Nguyên), trong đó 40.000ha bị chết.
Chủ tịch Vicofa Lương Văn Tự cho rằng, năm 2016, xuất khẩu cà phê của Việt Nam có thể giảm 25%, xuống mức thấp nhất trong mười năm trở lại đây, với khoảng 1 triệu tấn. Thị trường cà phê thế giới đã biết cà phê Việt Nam mất mùa do hạn hán, nhưng giá cà phê vẫn chưa tăng mạnh, khiến nông dân và các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nước ta vẫn chưa được hưởng lợi, thậm chí còn đối mặt với nhiều khó khăn hơn.
Theo báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, xuất khẩu cà phê 4 tháng đầu năm 2016 đạt 681.000 tấn, trị giá 1,16 tỷ USD, tăng 44,6% về khối lượng nhưng chỉ tăng 18,2% về giá trị. Cũng theo Bộ này, giá cà phê xuất khẩu bình quân 3 tháng đầu năm giảm 18,3% so với cùng kỳ năm 2015, đạt 1.697 USD/tấn. Cà phê Robusta giao dịch tại London chỉ ở mức 1.554 USD/tấn, không tăng so với những tháng trước đó.
Hiện lượng cà phê tiêu thụ trong nước chiếm khoảng 10% trong tổng sản lượng cà phê của Việt Nam, tăng 5% so với 10 năm trước. Bà Phạm Thị Kim Dung - Trưởng nhóm phân tích ngành hàng, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (IPSARD) cho hay, đối với thị trường trong nước, các doanh nghiệp rang xay cà phê cung ứng dựa trên đơn hàng ngắn hạn và mua bán giao ngay cho các nhà bán lẻ. Nhu cầu trong nước tăng, sản lượng giảm và nguồn cung cho xuất khẩu giảm sẽ là yếu tố thúc đẩy giá cà phê xuất khẩu. Thế nhưng, thực tế là giá cà phê xuất khẩu dựa nhiều vào giá hợp đồng trước đó và các nhà giao dịch vẫn đang chờ dấu hiệu rõ rệt hơn về sản lượng cà phê Việt Nam nên giá gần như không biến động nhiều trong thời gian qua.
Các chuyên gia trong ngành cho rằng, sở dĩ giá cà phê niên vụ 2014 - 2015 thấp như vậy là do thị trường thế giới biến động mạnh về giá vàng, dầu thô và tỷ giá của đồng USD với các đồng tiền khác khiến các nhà đầu cơ điều chỉnh suất đầu tư vào lĩnh vực có lợi nhất, và khi đó, họ nhanh chóng bán ra khiến giá cà phê rớt nhanh.
Chưa kể lâu nay, khi tham gia mua bán cà phê trên thị trường thế giới, do không chủ động được nên đa phần phía Việt Nam phải bán trừ lùi từ 50 - 100 USD/tấn. Tính bình quân, mỗi năm cà phê Việt Nam mất đi khoảng 150 triệu USD vì nguyên nhân này khiến giá đã giảm lại càng giảm hơn.
Ông Lê Tiến Hùng - TGĐ Công ty TNHH MTV xuất nhập khẩu 2-9 Dak Lak (Simexco DakLak) cho rằng, hạn hán sẽ gây thêm nhiều khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu cà phê. Nguyên nhân là do nông dân trồng cà phê hy vọng "mất mùa thì được giá” nên găm hàng để chờ giá lên vào cuối vụ. Thế nhưng thực tế không phải như vậy vì mặt hàng cà phê nằm ngoài quy luật trên.
Cũng theo ông Hùng, dù sản xuất được nhiều nhưng cà phê Việt Nam lại không khống chế được giá mà bị phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới. Bằng chứng là thời gian qua cà phê mất mùa lại bị mất luôn cả giá, đầu vụ 42.000đ/kg, rồi hạ dần xuống mức dưới 40.000đ/kg. Doanh nghiệp xuất khẩu không mua đủ hàng, trong khi đó thông tin về mất mùa càng tăng thêm quyết tâm trữ hàng trong dân. Điều này khiến cả doanh nghiệp và nông dân đều chịu thiệt.
Bên cạnh đó, hiện các doanh nghiệp nước ngoài thu mua cà phê của Việt Nam tổ chức liên kết chặt chẽ, thay đổi chính sách thu mua, thanh toán hợp đồng sau 200 - 250 ngày khiến doanh nghiệp trong nước đã khó nay lại càng thêm khó.

Cùng tìm hiểu về một số xu hướng chi phối ngành chế biến thực phẩm

Các chuyên gia nhận định, các sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ cũng sẽ được người tiêu dùng ưa chuộng. Theo ông Lân, nước ta có lợi thế để sản xuất các sản phẩm hữu cơ. Dù sản lượng của những sản phẩm này có thể không cao như sản phẩm công nghiệp nhưng giá trị gia tăng có thể gấp 5 lần. Đây sẽ là hướng đi cho các doanh nghiệp Việt muốn tránh cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn lớn.
Tại diễn đàn cấp cao của ngành sản xuất thực phẩm diễn ra ở TP.HCM ngày 19/5, ông Châu Thịnh Lân - Giám đốc Công ty TNHH chế biến thực phẩm Việt Ấn nhận định, xu hướng tiêu dùng thực phẩm tại thị trường Việt Nam trong tương lai sẽ theo xu thế phát triển của xã hội công nghiệp. Theo đó, người tiêu dùng sẽ giảm sử dụng các sản phẩm thực phẩm theo lối truyền thống để chuyển dần sang các sản phẩm chế biến sẵn.
Riêng đối với thực phẩm chế biến ăn liền vẫn còn dư địa lớn, đây là phân khúc mà các doanh nghiệp nhỏ có thể tránh việc cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp lớn để có thể đi thẳng vào các kênh phân phối bán lẻ.
Xu hướng chế biến sẵn cũng đã xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường nước chấm và gia vị. Các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước liên tục tạo ra những sản phẩm mới theo hướng pha trộn sẵn, mang đến sự tiện lợi và tiết kiệm thời gian cho người dùng. Do đó, để cạnh tranh được trên thị trường, các doanh nghiệp nội phải tạo ra sự khác biệt thì mới có được phân khúc thị trường riêng.
Các chuyên gia nhận định, các sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ cũng sẽ được người tiêu dùng ưa chuộng. Theo ông Lân, nước ta có lợi thế để sản xuất các sản phẩm hữu cơ. Dù sản lượng của những sản phẩm này có thể không cao như sản phẩm công nghiệp nhưng giá trị gia tăng có thể gấp 5 lần. Đây sẽ là hướng đi cho các doanh nghiệp Việt muốn tránh cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn lớn.
Theo nhiều chuyên gia, thách thức lớn của ngành công nghiệp thực phẩm hiện nay ngoài việc sản xuất vẫn mang tính thủ công, chưa tinh chế sâu, chủ yếu cạnh tranh về giá, mạng lưới phân phối thiếu tính liên kết; vấn nạn sử dụng chất phụ gia, tẩy trắng, thuốc kháng sinh sẽ ảnh hưởng đến tiềm năng xuất khẩu và mở rộng thị trường của các doanh nghiệp.
Để gia tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp, Phó giáo sư Chutima Waisaravutt (Đại học Kasetsart, Thái Lan) cho rằng, doanh nghiệp cần lắng nghe và thấu hiểu người tiêu dùng. Theo bà Chutima, người tiêu dùng hiện nay coi thực phẩm không chỉ để đưa vào dạ dày mà còn là phong cách sống. Bên cạnh đó, với sự phát triển của các ứng dụng công nghệ thông tin vào thương mại điện tử, thói quen mua hàng của người dùng cũng thay đổi. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm có thể trực tiếp phân phối các sản phẩm của mình đến khách hàng qua internet. Tuy nhiên, cần hoàn thiện khâu tiếp thị sản phẩm, dịch vụ hậu mãi và giao nhận.
Rõ ràng, để nâng cao sức cạnh tranh và hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp thực phẩm nội sẽ còn nhiều việc phải làm, trong đó có việc đầu tư vào khâu nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D), đẩy mạnh công nghệ. Theo các khảo sát, đầu tư cho R&D trong lĩnh vực thực phẩm và đồ uống thấp hơn so với các lĩnh vực khác từ 0,3 đến 0,8%.

Người trẻ tự tin nhập cuộc với cà phê chuỗi

Yếu tố thứ hai là nhân viên. Mọi thứ ở bất kỳ chuỗi cà phê nào đều có thể bị sao chép, từ menu đồ uống, cách bố trí không gian, gam màu chủ đạo cho đến cách pha chế, duy chỉ có sự nhiệt tình trong thái độ phục vụ của nhân viên là làm nên sự khác biệt. Đối với các chuỗi cà phê từ nước ngoài, nhân viên thường chỉ chú trọng phục vụ thức uống chứ không quan tâm nhiều đến việc tạo thiện cảm với khách hàng, còn các chuỗi cà phê trong nước thì chú trọng cả hai.
Trải nghiệm với các chuỗi cà phê ngoại
DN ngoại lớn nhất trên thị trường cà phê chuỗi hiện nay là Starbucks. Trả lời phỏng vấn báo chí gần đây, bà Patricia Marques - CEO của Starbucks Việt Nam cho biết, Starbucks đã mở được 19 cửa hàng ở TP.HCM và Hà Nội. Bà cũng chia sẻ là ở các thành phố lớn của Việt Nam có quá nhiều quán cà phê so với các thị trường khác nên lượng khách mỗi cửa hàng là không nhiều. Khách hàng vào quán hiện cũng đã "sành" hơn, như trước đây chỉ gọi đúng một loại đồ uống phổ biến nhất, còn hiện nay họ chọn theo sở thích.
Một chuỗi cà phê ngoại khác là Caffé Bene đến từ Hàn Quốc với kế hoạch trong vòng 5 năm mở khoảng 300 cửa hàng tại Việt Nam, nhưng rồi phải giảm xuống còn 100 cửa hàng. Nguyên nhân, theo một vị đồng sáng lập chuỗi này là thị trường cà phê Việt Nam có quá nhiều "ông lớn" cạnh tranh trong cùng một phân khúc. Giá mặt bằng cũng là một vấn đề khá nan giải nên kế hoạch phát triển của chuỗi Caffé Bene phải điều chỉnh.
Tại góc đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Nguyễn Thị Minh Khai (quận 1, TP.HCM) trước đây có một cửa hàng cà phê của một thương hiệu khá lớn đến từ Úc nhưng nay đã đóng cửa, trả lại mặt bằng. Điều này cho thấy ngay cả những chuỗi cà phê đã thành công ở nước sở tại hay ở nước khác, khi nhượng quyền vào Việt Nam, dù tiềm lực tài chính dồi dào cũng phải thoái lui trước sự cạnh tranh gay gắt của thị trường.
Một chuyên gia về nhượng quyền thương hiệu cho biết, mặt bằng tốt ở trung tâm TP.HCM hiện nay đều có giá từ vài trăm triệu đồng/tháng. Với mức giá thuê này thì các chuỗi cà phê định vị ở phân khúc cao cấp như Starbucks, Caffé Bene, Gloria Jeans Coffee... phải có chi phí rất lớn.
"Một vấn đề tối quan trọng trong kinh doanh chuỗi là phải nắm bắt nhanh nhất nhu cầu, thị hiếu của khách hàng để kịp thời thay đổi cho phù hợp", vị chuyên gia này nói.
Theo CEO của một chuỗi cà phê nội đang khá thành công, có 2 yếu tố quyết định sự thành bại của cà phê chuỗi là khách hàng và nhân viên.
Khách hàng ở các thành phố lớn như TP.HCM và Hà Nội vẫn thích không gian thân thuộc để trò chuyện cùng gia đình, bạn bè, cà phê chỉ là chất xúc tác cho nhu cầu kết nối. Những chuỗi ngoại nào chỉ rập khuôn phong cách nước sở tại thì rất khó thành công. Ngay cả Starbucks vốn thiên về phong cách take away, khi vào Việt Nam đã phải thay đổi concept quán với nhiều bàn ghế, ổ điện và wifi free nhằm thu hút khách hàng đến làm việc, trò chuyện.
Yếu tố thứ hai là nhân viên. Mọi thứ ở bất kỳ chuỗi cà phê nào đều có thể bị sao chép, từ menu đồ uống, cách bố trí không gian, gam màu chủ đạo cho đến cách pha chế, duy chỉ có sự nhiệt tình trong thái độ phục vụ của nhân viên là làm nên sự khác biệt. Đối với các chuỗi cà phê từ nước ngoài, nhân viên thường chỉ chú trọng phục vụ thức uống chứ không quan tâm nhiều đến việc tạo thiện cảm với khách hàng, còn các chuỗi cà phê trong nước thì chú trọng cả hai.
Sự "trỗi dậy" của các chuỗi cà phê trong nước
Áp lực cạnh tranh là rất lớn nhưng thị trường cà phê ở Việt Nam vẫn đủ rộng để doanh nhân trẻ thử sức. Một cái tên không thể không nhắc đến khi nói về ngành kinh doanh cà phê là Đào Chi Anh và chuỗi The KAfe - chuỗi cửa hàng cà phê đô thị đầu tiên phục vụ ẩm thực fusion tại Việt Nam. Tháng 10/2015, The KAfe đã nhận được khoản đầu tư 5,5 triệu USD từ quỹ đầu tư tại London và Hong Kong.
Một chuỗi cà phê được cho là "chất" nhất Hà Nội trong 2 năm vừa qua chính là Cộng. Mới đầu, Cộng chỉ là một quán cà phê nằm khiêm tốn bên đường Triệu Việt Vương, Hà Nội. Chỉ sau vài năm, Cộng đã trở thành một hệ thống quán cà phê với 19 cửa hàng tại Hà Nội lẫn Đà Nẵng. Và mới đây, Cộng lại cho ra mắt 2 cửa tiệm tại trung tâm TP.HCM với nơi đầu tiên trên đường Lý Tự Trọng và một quán mặt tiền đường Bùi Viện.
Trong năm 2015, một cái tên mới cũng đang tạo ấn tượng mạnh trong giới trẻ, những người đam mê cà phê và các nhà đầu tư là chuỗi "Ngôi nhà cà phê” - The Coffee House. Bắt đầu từ một cửa hàng vào tháng 9/2014, đến nay The Coffee House đã có 18 cửa hàng tại TP.HCM, Hà Nội và đây chưa phải là cột mốc của chuỗi này. Với tốc độ mở cửa hàng như vậy, có thể nói The Coffee House là chuỗi cà phê có tốc độ phát triển nhanh nhất thị trường hiện nay.
Dù nhận định thị trường cà phê Việt Nam đang ở vào giai đoạn cạnh tranh khốc liệt nhất nhưng CEO Nguyễn Hải Ninh của The Coffee House vẫn tự tin dự báo mức tăng trưởng của chuỗi trong năm 2016 sẽ đạt 100%.
Sự thành công của The KAfe, Cộng và The Coffee House cho thấy những thương hiệu làm tốt là những thương hiệu có concept tốt, am hiểu thị trường Việt Nam, đạc biệt là kinh doanh vì khách hàng. Đó cũng là niềm tự hào của thế hệ doanh nhân mới khi quyết tâm khẳng định mình trên thị trường và mang những giá trị ẩm thực, con người Việt Nam đến thế giới, dù nhiều thương hiệu phương Tây đang "tấn công" thị trường Việt Nam.

Từ đầu tư đến thương mại mặt hàng thái

Nhìn chung trong quý I/2016, Việt Nam nhập siêu từ khối ASEAN với mức hơn 1,72 tỷ USD. Một trong số đối tác có mức thâm hụt thương mại lớn nhất của Việt Nam là Thái Lan, Singapore. Được biết, 3 tháng đầu năm 2016, kim ngạch hai chiều Việt - Thái đạt 2,65 tỷ USD (mức này chiếm đến 28% tổng kim ngạch chung giữa Việt Nam - ASEAN), trong đó giá trị nhập khẩu từ Thái đạt 1,818 tỷ USD, tăng gần 8,3% so với cùng kỳ 2015.
Chưa đầy nửa đầu năm 2016, chuỗi bán lẻ Big C Việt Nam (33 trung tâm thương mại, siêu thị và đại siêu thị), hệ thống bán sỉ Metro Cash & Carry (19 trung tâm), trang thương mại điện tử Zalora Việt Nam đã rơi vào tay người Thái. Trước đó, chuỗi siêu thị điện máy Nguyễn Kim (21 siêu thị), chuỗi cửa hàng tiện lợi Family Mart (đổi tên thành B's mart) cũng đã thuộc về doanh nghiệp (DN) Thái. Song song với đầu tư, quan hệ thương mại Việt - Thái cũng tăng trưởng mạnh, chủ yếu là nhập khẩu hàng hóa từ Thái.
Thay vì lo lắng thị trường nội địa bị hàng Trung Quốc chi phối, giờ đây DN Việt Nam bắt đầu e ngại sự lớn mạnh của hàng Thái. Nhiều mặt hàng nhập khẩu từ Thái Lan đã lần lượt "soán ngôi" hàng Trung Quốc, dẫn đầu về giá trị nhập khẩu vào Việt Nam. Theo báo cáo của Hiệp hội Rau quả Việt Nam, quý I/2016, kim ngạch nhập khẩu rau quả Việt Nam đạt 156,8 triệu USD, tăng 42,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Điều đáng nói, rau quả từ Thái đã vượt lên Trung Quốc để dẫn đầu thị phần tại Việt Nam, với kim ngạch đạt gần 60 triệu USD, tăng 125% so với cùng kỳ năm 2015. Cụ thể, trong nhóm 10 thị trường lớn cung cấp rau quả cho Việt Nam, Thái Lan từ 24,13% thị phần năm 2015 đã vươn lên chiếm 38,18% thị phần trong năm nay. Ngược lại, thị phần của rau quả Trung Quốc tại Việt Nam giảm từ 27,7% xuống còn 24,98%, dù thực tế, giá rau quả Thái cao hơn.
Nhìn chung trong quý I/2016, Việt Nam nhập siêu từ khối ASEAN với mức hơn 1,72 tỷ USD. Một trong số đối tác có mức thâm hụt thương mại lớn nhất của Việt Nam là Thái Lan, Singapore. Được biết, 3 tháng đầu năm 2016, kim ngạch hai chiều Việt - Thái đạt 2,65 tỷ USD (mức này chiếm đến 28% tổng kim ngạch chung giữa Việt Nam - ASEAN), trong đó giá trị nhập khẩu từ Thái đạt 1,818 tỷ USD, tăng gần 8,3% so với cùng kỳ 2015.
Cùng với rau quả, trong quý I/2016, lượng xe Thái Lan nhập khẩu vào Việt Nam đạt 7.814 chiếc, trị giá 141,6 triệu USD, chiếm đến 39,7% tổng lượng xe nguyên chiếc nhập khẩu của cả nước và chiếm 29,1% về giá trị. Chỉ tính riêng ô tô nhập khẩu từ Thái, con số này đã tăng gần gấp đôi về số lượng và giá trị so với lượng nhập khẩu chung của cả nước ở thời điểm cùng kỳ năm ngoái.
Với kết quả này, Thái Lan vượt qua Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và dẫn đầu thị trường xe nhập khẩu tại Việt Nam. Số liệu từ Tổng cục Hải quan gần đây cũng cho thấy, 4 tháng đầu năm, Thái Lan vẫn giữ vững ngôi đầu về xe nhập khẩu, với 10.155 xe, chiếm 35% lượng xe nhập khẩu của cả nước.
Một trong những lý do khiến ô tô nhập khẩu từ Thái vào Việt Nam tăng mạnh trong những tháng đầu năm nay được lý giải là từ ngày 1/1/2016, thuế suất thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ các quốc gia ASEAN đã giảm từ mức 50% xuống còn 40%, theo lộ trình từ đầu năm 2017 sẽ tiếp tục giảm còn 30% và sang đầu năm 2018 là 0% khi thực thi hiệp định thương mại Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA).
Theo Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Đỗ Nhất Hoàng, chưa bao giờ làn sóng đầu tư, hàng hóa từ Thái Lan lại diễn ra mạnh mẽ như trong 2 năm trở lại đây. DN Thái Lan không "kèn trống" nhưng vào Việt Nam đúng thời điểm và nắm giữ đúng những lĩnh vực có tác động đến sản xuất, kinh doanh của DN trong nước và tiêu dùng thiết yếu của người dân (lĩnh vực F&B, hàng tiêu dùng nhanh, xây dựng...).
Điển hình tỷ phú giàu thứ ba Thái Lan Charoen Sirivadhanabhakdi, song song với việc thâu tóm một số hệ thống phân phối tại thị trường Việt Nam, thông qua công ty thành viên là ThaiBev (DN bia lớn nhất ở Thái với thương hiệu Chang Beer), nhà Sirivadhanabhakdi đã gián tiếp nắm giữ 11% vốn điều lệ của Vinamilk.
Đồng thời tỷ phú này từng bày tỏ ý định mua 40% cổ phần của Sabeco (tương ứng với giá trị gần 1 tỷ USD). Việc mua cổ phần Sabeco không chỉ có ThaiBev mà cả Singha Asia (thành viên của Tập đoàn đa ngành Boon Rawd Brewer) của tỷ phú giàu thứ 7 Thái Lan, Santi Bhirombhakdi cũng đã "đánh tiếng".
Vào cuối tháng 12/2015, Singha Asia đã chi 1,1 tỷ USD để sở hữu 25% cổ phần của Masan Consumer Holdings (hàng tiêu dùng) và 33,3% cổ phần của Masan Brewery (đồ uống) thuộc Tập đoàn Masan.
Masan Consumer được xem là một trong những nhà sản xuất hàng tiêu dùng lớn nhất Việt Nam và DN này đã thực hiện nhiều thương vụ mua bán, sáp nhập (M&A) với Nước khoáng Vĩnh Hảo, Vinacafé, Saigon Nutri Food (sản xuất thực phẩm đóng hộp, xúc xích), Cholimex Food (sản xuất tương ớt, nước chấm...). Thương vụ này theo như công bố hồi tháng 12/2015 sẽ bắt đầu có hiệu lực từ đầu năm nay.
Theo StoxPlus, năm 2014, Thái Lan dẫn đầu hoạt động M&A tại Việt Nam, với giá trị các thương vụ trên 800 triệu USD. Đến năm 2015, Thái Lan vẫn nằm trong 3 quốc gia dẫn đầu về M&A (cùng với Hong Kong và Nhật Bản) với giá trị giao dịch đạt 209 triệu USD và chủ yếu là nắm giữ cổ phần chi phối.

Vì sao Việt Nam được chọn là thị trường mục tiêu của hàng Thái?

Theo đại diện Sunshine, hiện khách hàng chính của DN tại Thái Lan là khách du lịch, trong đó đáng chú ý là khách du lịch đến từ Trung Quốc. "Những năm gần đây, khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam ngày càng nhiều, nên chúng tôi muốn khai thác thị trường Việt Nam, dù biết rằng Việt Nam cũng có những vùng trồng sầu riêng, nhưng điều khiến chúng tôi tự tin là hương vị sầu riêng Việt Nam không ngon bằng của Thái Lan", phía Sunshine tự tin khẳng định.
Thông qua đầu tư của các tập đoàn hàng đầu và sự có mặt của các ngân hàng Thái Lan cho thấy có thể trong tương lai không xa, hàng Thái sẽ "bủa vây" thị trường Việt Nam. Suy luận ấy có chính xác?
Theo chia sẻ của nhiều doanh nghiệp (DN) tại hội chợ "Thaifex - World of Food Asia 2016" - nơi quy tụ, cung cấp cơ hội giao thương cho các nhà khai thác trong ngành công nghiệp thực phẩm diễn ra từ ngày 25 - 29/5 tại Trung tâm Muang Thong Thani, Thái Lan (với 4.600 gian hàng của hơn 1.800 công ty đến từ 33 quốc gia), dù đánh giá cao thị trường Việt Nam, nhưng Việt Nam cũng chỉ là một trong số rất nhiều thị trường trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN mà DN Thái Lan nhắm đến .
Theo Pratchaya Arjfak - đại diện Bộ phận phát triển kinh doanh, Công ty Liên doanh Thái Lan và Đức Meat Product (TGM - DN đầu ngành với 53 năm sản xuất xúc xích, dăm bông, thịt xông khói tại Thái Lan), TGM đang có ý định đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Campuchia, Lào, Myanmar, Hong Kong. Tại Việt Nam, TMG đang cần tìm đại lý để phân phối hàng hóa nhưng chưa tìm được đối tác đủ tin cậy để có thể đàm phán. Vừa qua TMG đã đầu tư 35,7 triệu USD để xây dựng nhà xưởng nhằm khai thác thị trường các nước trong AEC khi hàng rào thuế quan của khu vực này được gỡ bỏ.
Cũng đang có ý định tìm hiểu thị trường Việt Nam, đại diện Sunshine International Co.,Ltd (có 23 năm hoạt động trong lĩnh vực trái cây sấy, với sản phẩm chủ lực là sầu riêng) đã chia sẻ với Báo Doanh Nhân Sài Gòn nhân sự kiện Thaifex 2016 rằng, Việt Nam đang là thị trường mục tiêu mà Sunshine muốn hướng đến.
Theo đại diện Sunshine, hiện khách hàng chính của DN tại Thái Lan là khách du lịch, trong đó đáng chú ý là khách du lịch đến từ Trung Quốc. "Những năm gần đây, khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam ngày càng nhiều, nên chúng tôi muốn khai thác thị trường Việt Nam, dù biết rằng Việt Nam cũng có những vùng trồng sầu riêng, nhưng điều khiến chúng tôi tự tin là hương vị sầu riêng Việt Nam không ngon bằng của Thái Lan", phía Sunshine tự tin khẳng định.
Khác với hai DN vừa nêu, Sookasem - nhà sản xuất các loại nước sốt, bánh ngọt và gia vị Thái Lan với các thương hiệu Molly, Lilly, Chilli và Kai chia sẻ, thương hiệu nước sốt của Sookasem đã có mặt tại thị trường Việt Nam 4 năm qua và được người tiêu dùng ưu chuộng. Hiện Sookasem tập trung để đưa thêm nhiều loại nước sốt không chỉ thông qua hệ thống bán lẻ của Thái tại Việt Nam mà còn thông qua các đại lý.
Tại Thaifex 2016, nhiều DN cho thấy tỷ lệ xuất khẩu chiếm đến 90% doanh số của công ty nhưng khi hỏi đến thị trường Việt Nam đều cho rằng chưa có ý định "đánh mạnh", dù sản phẩm của họ đã có mặt nhiều ở thị trường châu Á như Malaysia, Hàn Quốc, Hong Kong, Lào, Campuchia.
Dù không nói rõ nhưng những khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ đã khiến nhiều DN trong ngành thực phẩm của Thái Lan chưa muốn du nhập vào Việt Nam. Song hiện nay cùng với sự hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý và sự "dọn đường" của một số tỷ phú, DN Thái Lan sẽ mạnh bước hơn vào thị trường Việt Nam.

Chia sẻ với bạn ngành điều Việt Nam: Lớn nhưng không mạnh

Bên cạnh những khó khăn chung của ngành, ở góc độ DN, ông Vũ Thái Sơn cho rằng, nhiều chính sách trong quản lý hiện nay đang gây khó khăn cho sản xuất và xuất khẩu điều. Ông dẫn chứng, điều nhập khẩu về là để sản xuất xuất khẩu mà vẫn bị hải quan ghi nợ thuế 275 ngày, sau đó DN phải chứng minh đây là hàng xuất khẩu thì mới được bỏ thuế. "Việc này không chỉ gây tốn kém, mà lỡ có sai sót là bị cán bộ hải quan "làm khó"".
Nhập khẩu 2/3 nguyên liệu
Năm 2015, Việt Nam xuất khẩu 328.819 tấn điều nhân, kim ngạch hơn 2,4 tỷ USD. Hiện Việt Nam là quốc gia xuất khẩu điều lớn nhất thế giới, chiếm 50% thị phần điều toàn cầu. Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, trong 4 tháng đầu năm 2016, Việt Nam xuất khẩu được 90.600 tấn điều, trị giá 688 triệu USD (tăng 14,7% so với cùng kỳ 2015).
Mới đây, trong khuôn khổ hội nghị "Ngành điều chuyển mình đón vận hội mới: Nói tới điều sạch - nghĩ tới Việt Nam", Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) cho biết cả nước hiện có khoảng 1.000 cơ sở chế biến hạt điều và 371 đơn vị xuất khẩu, công suất chế biến khoảng 1,2 triệu tấn, chiếm khoảng 40% công suất chế biến của thế giới.
Tuy nhiên, điều nghịch lý là hiện nay ngành điều Việt Nam chỉ chủ động được 1/3 nguyên liệu sản xuất, còn lại phải nhập khẩu từ Campuchia và phần lớn từ châu Phi, đặc biệt là Bờ Biển Ngà. Trong 4 tháng đầu 2016, Việt Nam đã nhập khẩu gần 207.000 tấn hạt điều, tăng gần 5% so với cùng kỳ 2015, đạt kim ngạch trên 323 triệu USD, tăng trên 22% so với cùng thời điểm năm trước.
Nói về thực trạng ngành điều Việt Nam, ông Nguyễn Đức Thanh - Chủ tịch Vinacas, cho rằng ngành điều Việt Nam được đánh giá có kim ngạch xuất khẩu lớn nhưng không mạnh vì thiếu đoàn kết. Là "người khổng lồ” nhưng lại bị ép giá, đến các nhà cung cấp nguyên liệu cũng gây khó khăn cho DN Việt Nam. Tại sao họ làm được như vậy? Vì có những DN của nước ta qua đó "làm loạn" thị trường.
Ông Vũ Thái Sơn - đại diện Công ty CP Long Sơn với doanh số xuất khẩu khoảng 180 triệu USD/năm - nhận định, ngành điều Việt Nam có 3 cái nhất: xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất. Nhưng do tình trạng không đoàn kết, DN mạnh ai nấy làm đã khiến cho cả ngành điều gặp bất lợi trên thị trường quốc tế.
Trước vấn đề này, ông Sơn cho rằng, trong hai đến ba năm tới, ngành điều Việt Nam vẫn sẽ duy trì được lợi thế nguyên liệu trong nước và từ Campuchia, song trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt do sự phụ thuộc quá nhiều vào vùng nguyên liệu, dự báo khoảng năm 2020 sẽ gặp khó khăn lớn, và nguy cơ mất khả năng cạnh tranh là hoàn toàn có thể.
Theo ông Sơn, đến một lúc nào đó khi các DN nước ngoài đầu tư vào chế biến, họ sẽ có sản lượng lớn điều nhân xuất khẩu, tức DN Việt Nam thiếu trầm trọng nguyên liệu để sản xuất. "Điều này đã từng xảy ra cách đây khoảng 10 năm. Cần lưu ý là Trung Quốc đang lôi kéo DN Việt Nam đầu tư vào lĩnh vực này ngay tại châu Phi", ông Sơn cảnh báo.
Bên cạnh những khó khăn chung của ngành, ở góc độ DN, ông Vũ Thái Sơn cho rằng, nhiều chính sách trong quản lý hiện nay đang gây khó khăn cho sản xuất và xuất khẩu điều. Ông dẫn chứng, điều nhập khẩu về là để sản xuất xuất khẩu mà vẫn bị hải quan ghi nợ thuế 275 ngày, sau đó DN phải chứng minh đây là hàng xuất khẩu thì mới được bỏ thuế. "Việc này không chỉ gây tốn kém, mà lỡ có sai sót là bị cán bộ hải quan "làm khó"".
"Đổi vận" cho điều
Chia sẻ về giải pháp nhằm hạn chế thực trạng thiếu đoàn kết giữa cộng đồng DN ngành điều, ông Nguyễn Đức Thanh cho hay, để hạn chế tình trạng bị ép giá khi mua điều thô, hiện nay các DN ngành điều tại tỉnh Long An đang tập hợp thành một nhóm mua với số lượng khoảng 100.000 tấn/năm và một hoặc hai DN đại diện đứng ra đàm phán.
Theo đó, ông Thanh mong muốn DN điều ở các địa phương khác cũng nên áp dụng theo phương thức này. Lãnh đạo Vinacas còn thông tin, thời gian qua nhiều DN nhập khẩu hạt điều của Việt Nam "xù” hợp đồng, gây khó khăn cho sản xuất. Thế nhưng, nguyên nhân của vấn đề là do chính DN nước ta chưa chặt chẽ trong những điều khoản khi soạn thảo hợp đồng. Hoặc ký trước hợp đồng khi mùa vụ chưa tới mà không có ràng buộc với đối tác, nếu có khởi kiện cũng chỉ thua. Theo ông Thanh, Vinacas có soạn sẵn mẫu hợp đồng để các DN tham khảo. Đây là mẫu hợp đồng chặt chẽ, rất ràng buộc.
Đại diện Tổ chức Vina Control - đơn vị chuyên kiểm định chất lượng nông sản cho Vinacas nói: "Hiện nay nhiều DN ký hợp đồng nhập khẩu điều thô với độ ẩm 12%, chắc chắn những lô hàng này về Việt Nam sẽ bị thối, mốc. Nguyên nhân vì không có tiền lệ trả hàng không đạt chất lượng mà thường chỉ đàm phán giảm giá. Vì vậy, phía Vina Control khuyến cáo, DN nên ký hợp đồng với độ ẩm dưới 10%".

Tìm hiểu sự việc thời trang tuổi teen: Làm dễ, bán khó

Trong một lần trò chuyện với ông Nguyễn Hữu Phụng (Công ty Thời trang Việt), hỏi ông vì sao không doanh nghiệp Việt Nam nào mặn mà với thời trang tuổi teen, ông nói: "Làm thời trang cho tuổi teen nhà sản xuất phải liên tục cập nhật mẫu mã, xu hướng, chất liệu vải, nhưng giá phải rẻ. Tuổi teen luôn thay đổi tâm lý, nay thích cái này, mai đã thích cái khác và thường "bắt chước" thời trang của "các sao" nhưng giá phải trả chỉ trong khoảng vài ba trăm, cao lắm là 400 ngàn đồng một sản phẩm. Với giá này, nếu sản xuất số lượng ít thì khó lãi".
Từng là chủ một xưởng may quần áo cho trẻ em bỏ mối tại chợ sỉ Bình Tây, nhận thấy thời trang cho tuổi teen (độ tuổi từ 13 - 18) còn trống, nghĩ "dễ ăn" nên chị Ngọc Mai - Doanh nghiệp tư nhân May NTT quyết định chuyển sang phân khúc này.
Thế nhưng, như chị Mai chia sẻ: "Phân khúc thời trang teen tuy rộng nhưng vào rồi mới biết khó làm. Ở độ tuổi trẻ em, quần áo do cha mẹ quyết định, nhưng thời trang cho tuổi teen không đơn giản như vậy. Cái khó nhất của thời trang phân khúc này là độ tuổi "lỡ lỡ", sở thích nhiều dạng và liên tục thay đổi, chưa kể gu thời trang cũng khác nhau ở mỗi khu vực. Chẳng hạn khi thấy một số mẫu bán chạy ở TP.HCM, tôi đóng hàng ra Hà Nội nhưng thị trường ngoài ấy lại không chuộng".
Đó là lý do chị Mai phải thanh lý hàng tồn kho để trở về với phân khúc thời trang trẻ em. Chị Mai tiết lộ: "Chỉ tính lô hàng tồn cũng đã lỗ vài trăm triệu đồng".
Mặc dù đang cung ứng thời trang trẻ em và tuổi teen cho siêu thị Co.opmart, nhưng theo bà Nguyễn Hoàng Vân - Giám đốc Công ty TNHH Kiến Bình: "Làm thời trang cho tuổi teen rất khó. Khó đầu tiên là thị hiếu thay đổi rất nhanh, vừa xuất xưởng lô hàng mới, chưa đến 3 tháng đã bị lỗi mốt. Chưa kể gu ở mỗi khu vực cũng khác. Ví dụ ở siêu thị, mẫu thiết kế có nơ, ren, hơi rườm rà lại bán chạy, trong khi tại các shop lại chuộng phong cách đơn giản. Hoặc ở phía Bắc thích màu sáng nhưng gu teen ở phía Nam lại thích màu trầm. Vì vậy, rất khó phán đoán nhu cầu và sức cung để sản xuất, tránh hàng tồn kho".
Qua tìm hiểu, doanh thu chính của Kiến Bình hiện nay vẫn chủ yếu là quần áo cho trẻ em, còn thời trang tuổi teen không khả quan nên Công ty không đầu tư nhiều cho phân khúc này.
Trong một lần trò chuyện với ông Nguyễn Hữu Phụng (Công ty Thời trang Việt), hỏi ông vì sao không doanh nghiệp Việt Nam nào mặn mà với thời trang tuổi teen, ông nói: "Làm thời trang cho tuổi teen nhà sản xuất phải liên tục cập nhật mẫu mã, xu hướng, chất liệu vải, nhưng giá phải rẻ. Tuổi teen luôn thay đổi tâm lý, nay thích cái này, mai đã thích cái khác và thường "bắt chước" thời trang của "các sao" nhưng giá phải trả chỉ trong khoảng vài ba trăm, cao lắm là 400 ngàn đồng một sản phẩm. Với giá này, nếu sản xuất số lượng ít thì khó lãi".
Bà Hoàng Vân chia sẻ thêm: "Hiện nay trên thị trường, quần áo cho trẻ em và thời trang tuổi teen của Trung Quốc có mẫu mã phong phú, chất liệu đa dạng, giá rẻ nên đây cũng là khó khăn cho doanh nghiệp Việt nhắm vào phân khúc này".
"Mặc dù phân khúc thời trang teen khó làm nhưng nếu biết chọn ngách hẹp vẫn "dễ ăn", chị Phương Nhi - Giám đốc Công ty Con Mèo Xanh khẳng định khi vừa đầu tư một khoản lớn để mở shop thứ hai tại TP.HCM. Chị kể: "Nhận thấy phân khúc thời trang biển, áo tắm cho tuổi teen rất hot nhưng ít người làm nên tôi quyết định tham gia. Mới đầu chỉ bán hàng trên mạng, tài trợ cho các sao, người mẫu mặc trang phục của mình để đóng phim, biểu diễn và dùng hình ảnh các sao quảng cáo sản phẩm. Khi có lượng khách khá đông, tôi mới mở cửa hàng".
Từ thời trang đi biển, Phương Nhi tiếp tục mở rộng sang thời trang theo mùa. Tuy không cho biết doanh thu nhưng chỉ tính 200 triệu đồng tiền thuê mặt bằng hai cửa hàng, chưa kể chi phí nhân viên bán hàng và các chi phí khác, cho thấy phân khúc mà Con Mèo Xanh chọn cũng không đến nỗi... khó thở.
Tương tự, sau thành công với dòng áo sơ mi với nhiều kiểu dáng và màu sắc tươi sáng, trẻ trung, thương hiệu thời trang Marc - trực thuộc Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại Nét Việt đã tiến tới đa dạng hoá các sản phẩm với đầm liền, chân váy, quần, áo thun, áo kiểu, được tuổi teen đón nhận. Các mẫu thiết kế của Marc luôn sáng tạo, mới lạ và độc đáo. Đặc biệt Marc luôn cập nhật sản phẩm mới mỗi tuần.
"Đây chính là điểm mạnh giúp Marc có được chỗ đứng trong lòng khách hàng teen và thương hiệu đã mở 6 cửa hàng tại một vài tỉnh - thành", một đại diện của thương hiệu Marc chia sẻ.
Chọn phong cách minimalism với sản phẩm tự thiết kế theo xu hướng tinh giản, trẻ, ứng dụng cao, thương hiệu thời trang Nosbyn cũng đã thu hút khá nhiều khách hàng tuổi teen. "Dù Nosbyn mới có 3 cửa hàng tại TP.HCM nhưng hiệu quả kinh doanh khả quan", đại diện Nosbyn tiết lộ.
Vị này cho biết thêm: "Mặc dù theo hướng thời trang cho teen nhưng Nosbyn rất chú trọng tới chất lượng vải và ưu tiên các loại vải không cần ủi, giá phải chăng. Nhờ đánh trúng tâm lý tuổi teen nên các mẫu thời trang xuất xưởng đều được đón nhận".

Cùng tìm hiểu về thị trường làm đẹp: "Đất màu" dành cho ai?

Song song với VKFTA, Việt Nam còn là thành viên Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và đã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do với nhiều nước, thế nên không chỉ có sản phẩm từ ngành công nghiệp làm đẹp Hàn Quốc mà mỹ phẩm từ Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia cũng lần lượt có cơ hội phân chia thị trường này. Điều này càng được khẳng định qua triển lãm chuyên ngành làm đẹp lớn nhất khu vực Đông Dương - Cosmobeauté Việt Nam. Sau 9 lần thực hiện tại Việt Nam, số lượng DN tham gia và lượng DN tìm kiếm đối tác thông qua triển lãm ngày một tăng.
Ngoại rộn ràng
Trái ngược với sự thầm lặng của ngành làm đẹp Việt Nam là sự du nhập và phát triển không ngừng của rất nhiều nhãn hàng mỹ phẩm từ Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc.
Từng chia sẻ về những cam kết trong Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA), bà Đào Thu Hương - Trưởng Phòng Hội nhập kinh tế quốc tế, Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tài chính cho biết, trong khoảng 200 mặt hàng mà Việt Nam cắt giảm thuế quan cho Hàn Quốc có các loại mỹ phẩm. Điều này dự báo thời gian tới, mỹ phẩm Hàn Quốc sẽ tràn vào thị trường Việt Nam. Bởi lẽ từ mấy năm đầu thập niên 2010, dù chỉ được nhập khẩu vào Việt Nam 7 dòng sản phẩm Hàn Quốc nhưng kim ngạch đã đạt 12,7 triệu USD.
Song hành với việc nhập mỹ phẩm là các thương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng tại Hàn Quốc như OHUI, The Face Shop, Etude House, Laneige, Skinfood có mặt rất sớm tại Việt Nam. Cũng trong thời gian ấy, thống kê sơ bộ tại thị trường Việt Nam cho thấy, cùng với tốc độ tăng trưởng từ 10 - 20%/năm và gần như không có đối thủ nội địa, các doanh nghiệp (DN) mỹ phẩm nước ngoài chia nhau thị phần khoảng 150 triệu USD/năm.
Trong đó có sự góp mặt của một số chuỗi chuyên kinh doanh sản phẩm chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp như Guardian (thuộc Tập đoàn Dairy Farm) với 39 cửa hàng sau gần 5 năm du nhập thị trường Việt Nam; Orient Beauty Corp (Công ty CP Vẻ đẹp Phương Đông) - đơn vị phân phối các sản phẩm của SkinFood tại thị trường Việt Nam kể từ năm 2011 đã có 20 cửa hàng; Body Shop (do Công ty TNHH TBS Vietnam thuộc chi nhánh của Rampai-Niaga Sdn Bhd (Malaysia) nhượng quyền phân phối tại Việt Nam) từ năm 2009 đến nay đã phát triển được 20 cửa hàng tại TP.HCM và Hà Nội.
Mô hình nhượng quyền hoặc phân phối độc quyền các thương hiệu mỹ phẩm và sản phẩm liên quan đến chăm sóc sắc đẹp của các thương hiệu ngoại đang ngày càng bành trướng tại thị trường Việt Nam. Dự kiến từ năm 2017 - 2018, khi mức thuế nhập khẩu vào Việt Nam cắt giảm về mức 20% thì mỹ phẩm từ Hàn Quốc sẽ "lấn sân" của ngành công nghiệp làm đẹp Việt Nam.
Bà Đào Thu Hương kỳ vọng, với sự đa dạng chủng loại mỹ phẩm mà Việt Nam cam kết cắt giảm thuế quan trong 10 năm tới, người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt là chị em phụ nữ sẽ có nhiều cơ hội để làm đẹp với các sản phẩm chất lượng cao, giá cạnh tranh.
Song song với VKFTA, Việt Nam còn là thành viên Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và đã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do với nhiều nước, thế nên không chỉ có sản phẩm từ ngành công nghiệp làm đẹp Hàn Quốc mà mỹ phẩm từ Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia cũng lần lượt có cơ hội phân chia thị trường này. Điều này càng được khẳng định qua triển lãm chuyên ngành làm đẹp lớn nhất khu vực Đông Dương - Cosmobeauté Việt Nam. Sau 9 lần thực hiện tại Việt Nam, số lượng DN tham gia và lượng DN tìm kiếm đối tác thông qua triển lãm ngày một tăng.
Chia sẻ tại Cosmobeauté Việt Nam 2016 (diễn ra từ 21 - 24/4 tại TP.HCM), ông CP Saw - Chủ tịch Cosmobeauté cho biết: "Chú trọng kết nối kinh doanh trực tiếp nên trong các chương trình triển lãm, chúng tôi tổ chức những buổi làm việc cho các chủ spa, nhà phân phối, nhập khẩu mỹ phẩm, khách mua hàng tiềm năng, nhà đầu tư tiềm năng. Thông qua triển lãm, các đơn vị sẽ tự tìm kiếm nhà cung cấp sản phẩm hay công nghệ, máy móc phục vụ cho ngành làm đẹp".
Cũng tại triển lãm này, nhiều DN đến từ các nước kỳ vọng tìm được khách hàng mới, bởi họ đánh giá rất cao tiềm năng thị trường mỹ phẩm Việt Nam. Song, theo ông CP Saw, không phải DN nào cũng có được hợp đồng, hoặc thành công sau Cosmobeauté Việt Nam mỗi năm. Bởi vì hơn 50% DN tham gia Cosmobeauté Việt Nam là khách hàng mới. "Đây gần như là tiêu chí của triển lãm, vì vậy qua thời gian cũng có nhiều DN phát triển tốt nhưng cũng có những trường hợp chưa như ý”, ông CP Saw chia sẻ thêm.
Trước đó, tại Cosmobeauté Việt Nam 2014, bà Kathy Lian đại diện bộ phận kinh doanh Công ty TNHH Beauty Store Hiệp Phú, đơn vị phân phối độc quyền thương hiệu Canmake Tokyo chia sẻ, năm 2014, sản phẩm chính thức có mặt tại thị trường Việt Nam sau khi đã du nhập vào thị trường Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Myanmar, Malaysia, Mỹ, Đài Loan. Tham gia hội chợ là cơ hội để Beauty Store Hiệp Phú tiếp cận khách hàng tiềm năng. Theo bà Kathy Lian, thị trường mỹ phẩm Việt Nam mới bắt đầu phát triển nên hứa hẹn nhiều thành công cho Hiệp Phú.
Theo đại diện một DN hoạt động trong ngành mỹ phẩm, 2 năm qua, thị trường Việt Nam đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là sự có mặt của rất nhiều thương hiệu, mặt hàng, công nghệ phục vụ ngành làm đẹp.
"Điều đáng nói là năm 2014, theo thống kê từ Công ty Nghiên cứu thị trường Nielsen, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng làm đẹp tại Việt Nam còn khiêm tốn, cụ thể người Việt chỉ tiêu khoảng 4 USD/người/năm đối với mỹ phẩm, chỉ bằng 1/5 mức tiêu dùng của người Thái Lan đối với ngành hàng này (tương đương 20 USD/năm) đã tạo động lực cho DN muốn khai phá thị trường Việt Nam.
Du nhập vào Việt Nam hơn 3 năm, đại diện Công ty CP Phương Mai - đơn vị đang phân phối máy lọc nước đặc biệt do Mitsubishi Rayon Cleansui chế tạo - chia sẻ: "Chúng tôi cung ứng sản phẩm này cho các câu lạc bộ thẩm mỹ, khu điều dưỡng, câu lạc bộ healthy tại các khách sạn, resort 4 - 5 sao, hệ thống spa, bệnh viện và cư dân ở những căn hộ cao cấp tại TP.HCM và các thành phố lớn. Đây là sản phẩm được sự hỗ trợ từ Chính phủ Nhật Bản, hữu ích cho cư dân Nhật, giúp loại bỏ các chất cặn bã bám trên da và tái tạo năng lượng cho da, giá bán giao động từ 50 triệu đồng/máy trở lên, được nhiều spa lớn đặt hàng. Điều này cho thấy ý thức về sức khỏe của người tiêu dùng Việt Nam đang ngày càng nâng cao, bởi lẽ, không chỉ có các spa mà có cả cá nhân mua lắp đặt tại nhà riêng".
Nhìn vào sự tăng trưởng của ngành công nghiệp làm đẹp tại Việt Nam có thể thấy những dự báo trước đây là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, điều đáng nói là rất nhiều DN Việt Nam trở thành nhà phân phối mỹ phẩm cho các công ty nước ngoài. Phải chăng tỷ lệ sở hữu 90% thị trường làm đẹp Việt Nam thuộc về DN ngoại là có thật?
Việt Nam là mảnh đất màu mỡ cho doanh nghiệp mỹ phẩm nước ngoà. Ảnh: B.Loan
Nội loay hoay
Trước sự cạnh tranh của nhiều thương hiệu mỹ phẩm lớn, doanh nghiệp (DN) ngành mỹ phẩm Việt Nam đang tìm cách xuất khẩu hoặc liên kết cho ra nhiều mặt hàng mới. Trên hành trình tìm đường xuất khẩu, số doanh nghiệp thành công vẫn còn rất khiêm tốn, trong đó có thể kể đến Công ty TNHH SX Mỹ phẩm Lan Hảo (Thorakao), Công ty CP Mỹ phẩm Sài Gòn, Công ty CP Sao Thái Dương...
Theo bà Nguyễn Thị Thanh Thảo - Phó chủ tịch Hội Hóa mỹ phẩm TP.HCM, thời gian qua đã có vài DN FDI ngưng sản xuất mỹ phẩm tại Việt Nam và chuyển sang Malaysia, Thái Lan để hưởng chính sách ưu đãi. Thay vào đó là sự du nhập mỹ phẩm từ các nước vào Việt Nam.
"Sở dĩ có tình trạng này là do càng sản xuất càng lỗ nên một số DN nhập khẩu mỹ phẩm về bán được xem là giải pháp để tồn tại. Đương nhiên, là nhà đầu tư, họ biết cân nhắc cách kinh doanh", bà Thảo chia sẻ.
Theo bà Thảo, dù nhập khẩu mỹ phẩm hay máy móc thuộc ngành công nghiệp làm đẹp của các nước về phân phối tại thị trường Việt Nam được nhiều DN xem là cách kinh doanh ổn định, nhưng không phải DN nào cũng chọn giải pháp này.
"Cũng có trường hợp DN có dây chuyền sản xuất hiện đại hợp tác với công ty dược sản xuất mỹ phẩm cung ứng cho thị trường nhưng họ không muốn công bố. Hoặc cũng có DN ngành hóa mỹ phẩm hợp tác với DN nước ngoài sản xuất mỹ phẩm xuất khẩu, chỉ giữ lại một vài sản phẩm đặc trưng phân phối trên thị trường trong nước. Cũng có một số DN mỹ phẩm nhỏ trước những khó khăn của thị trường đã phải ngừng hoạt động.
Theo một vài DN trong ngành, nhiều hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã ký kết đưa mức thuế đối với các mặt hàng nhật khẩu về mức 0% - 5%, trong đó có mỹ phẩm nên không còn hấp dẫn các DN tiếp tục sản xuất. Vì vậy, việc một số DN FDI mỹ phẩm dịch chuyển đầu tư cũng là tất yếu.
Số đông DN mỹ phẩm Việt Nam vẫn còn khá non trẻ nên chỉ sản xuất một số mặt hàng như dầu gội, sữa tắm..., còn mỹ phẩm cung cấp cho spa thì hầu hết đều phải nhập. Do đó, đây được xem là cơ hội cho các thương hiệu mỹ phẩm cao cấp ngoại nhập cạnh tranh. Cụ thể, các sản phẩm về giảm béo, giảm mụn, giảm nhờn da, trẻ hóa làn da, trắng da, đẹp tóc bán chạy nhất.
Theo đại diện Công ty CP Phương Mai, với xu thế trở về với thiên nhiên nên hiện nay nhiều dòng sản phẩm hữu cơ 100% (organic) đang được nhiều spa chọn lựa. Vì vậy, nếu hãng mỹ phẩm nào bắt kịp xu hướng này sẽ thành công và đó cũng là hướng đi mới cho ngành hóa mỹ phẩm Việt Nam.
Có thể thấy, dù theo xu hướng nào thì ngành làm đẹp Việt Nam cũng cần phải học hỏi, cập nhật công nghệ cũng như kiến thức, kinh nghiệm từ những thị trường với doanh thu hàng tỷ USD như Hàn Quốc và hàng trăm tỷ baht như Thái Lan.
Các DN Việt Nam đều biết được thế mạnh của mình ở đâu qua những triển lãm công nghệ làm đẹp. Những năm gần đây đã có nhiều triển lãm về ngành làm đẹp diễn ra Việt Nam. Được biết, vào tháng 8/2016, đại diện các DN thuộc Hội Hóa mỹ phẩm TP.HCM, Hiệp hội Tinh dầu - Hương liệu mỹ phẩm Việt Nam, Hội Phẫu thuật thẩm mỹ TP.HCM sẽ cùng có mặt tại một hội chợ - triển lãm ngành làm đẹp tại Việt Nam.

Sẽ giảm giá dần đối với năng lượng sạch

Ông Đặng Huy Cường - Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương cho biết, phát triển năng lượng tái tạo là một trong những ưu tiên của Chính phủ để giải quyết những thách thức năng lượng nhằm đáp ứng sự phát triển kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có kế hoạch cụ thể về những nguồn năng lượng thay thế mà vẫn phụ thuộc vào than đá.
Năng lượng sạch quá ít
Cuối tháng 5/2016, Tập đoàn General Electric (GE) công bố hợp tác với Bộ Công Thương phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam. Theo đó, từ đây tới năm 2025, hai bên sẽ cùng phát triển điện gió để tối thiểu tạo ra thêm 1 triệu kWh điện, đủ để cung cấp cho 1,8 triệu hộ dân.
GE Việt Nam là một trong những DN phát triển trang trại điện gió đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long (tỉnh Bạc Liêu). Tính đến nay, GE đã cung cấp 62 tuabin gió với tổng công suất gần 1 triệu kWh điện, đã hòa lưới điện quốc gia vào tháng 6/2013. Tuy nhiên, con số này khá nhỏ trong nguồn năng lượng ở Việt Nam. Năm 2015, sản lượng điện thương phẩm của Việt Nam đạt khoảng 141,8 tỷ kWh, chủ yếu là nhiệt điện và thủy điện.
Theo ông Jean Philippe Denruyter - chuyên gia năng lượng Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Thế giới (World Wide Fund For Nature - WWF), những thiệt hại về kinh tế khi dùng nhiệt điện là rất cao vì lượng khí thải phát sinh trong quá trình sản xuất là rất lớn. Trung tâm Phát triển sáng tạo Xanh (Green ID) ước tính, khi 70 nhà máy nhiệt điện than cùng hoạt động, Việt Nam sẽ bị thiệt hại với 639 triệu USD chi phí y tế do khí thải độc hại cho sức khoẻ con người.
Với thủy điện, những xáo trộn trong hệ sinh thái gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân thì ngày càng rõ hơn. Việc ngập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long và hạn hán ở Tây Nguyên là minh chứng.
Ông Jean khẳng định: "Trong tiến trình phát triển năng lượng, các nước tiên tiến đã tiến đến ứng dụng các nguồn năng lượng gió, mặt trời. Điển hình là Nicaragua hiện nay chỉ còn sử dụng 50% năng lượng truyền thống. Tương tự, các nước Đan Mạch, Ý, Nhật đều tăng tỷ lệ năng lượng sạch".
Ông Đặng Huy Cường - Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương cho biết, phát triển năng lượng tái tạo là một trong những ưu tiên của Chính phủ để giải quyết những thách thức năng lượng nhằm đáp ứng sự phát triển kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có kế hoạch cụ thể về những nguồn năng lượng thay thế mà vẫn phụ thuộc vào than đá.
Số liệu từ Quy hoạch điện giai đoạn 2011-2020 cho thấy, tổng công suất nhiệt điện than ở Việt Nam là 36.000MW, sản lượng điện dự kiến đạt 156 tỷ kWh, chiếm 46,8% tổng sản lượng điện quốc gia và tiêu thụ 67,2 triệu tấn than đá. Đến năm 2030, tổng công suất nhiệt điện than tăng lên 75.000MW, cung cấp 394 tỷ kWh, chiếm 56,4% tổng sản lượng điện và tiêu thụ 171 triệu tấn than.
Theo ông Phạm Hồng Sơn - CEO GE Việt Nam: "Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên năng lượng gió dồi dào, phân bố trên khắp cả nước. Sự đa dạng về địa lý sẽ có lợi thế lớn trong việc sử dụng điện gió với chi phí thấp". Đáng tiếc là việc khai thác nguồn năng lượng sạch, an toàn này chưa được bao nhiêu".
Doanh nghiệp phải tự tính toán
Ông Huỳnh Tiến Dũng - Trưởng Ban Quản lý Dự án WWF Chương trình Việt Nam cho biết, trong cơ cấu tiêu thụ điện, hơn 50% là phục vụ sản xuất, hoạt động của DN, tuy nhiên, so với thế giới, việc đầu tư tiết kiệm nhiên liệu và sử dụng năng lượng sạch chưa đáng kể.
Theo ông Jean Philippe Denruyter, ở các nước, DN rất quan tâm đến năng lượng xanh. Những công ty đa quốc gia như Mars, Coca-Cola, HP, IKEA... đều đã có định hướng cụ thể cho việc sử dụng 100% năng lượng tự nhiên vào 10 hoặc chậm nhất là 20 năm tới. Như IKEA chấp nhận đầu tư 1,9 tỷ USD để sử dụng toàn bộ năng lượng xanh từ năm 2015.
"Đây chính là bước chuẩn bị không thể thiếu trong quá trình phát triển DN. Không thể đợi Nhà nước triển khai các chương trình khai thác năng lượng gió, mặt trời mà chính DN phải chủ động hơn nữa trong việc đầu tư nguồn năng lượng mới", ông Jean Philippe Denruyter khẳng định.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Quyết - Giám đốc Cung ứng chuỗi Coca-Cola Việt Nam cho biết, không chỉ đáp ứng được yếu tố an ninh năng lượng, sử dụng năng lượng xanh còn có thể giúp DN tiết giảm chi phí. Năm 2014, Coca-Cola Việt Nam đầu tư giải pháp tiết kiệm năng lượng và nước, giảm tiếng ồn, nước thải, khí thải. Trong sản xuất, Coca-Cola Việt Nam dùng CNG (khí nén tự nhiên) và nguyên liệu Biomass (nguyên liệu tái tạo) để thay thế dầu FO cùng hệ thống hấp thụ nhiệt năng từ mặt trời để đun nóng nước nguyên liệu. Kết quả, đơn vị này tiết kiệm được 20% chi phí sản xuất.
Theo ông Quyết, trong điều kiện kinh tế cạnh tranh như hiện nay, DN càng sản xuất lớn thì càng phải tìm nhiều giải pháp để giảm chi phí cũng như tác động đến môi trường để tạo lợi thế. Đó chính là lý do Coca-Cola Việt Nam định hướng sử dụng năng lượng mặt trời sẽ chiếm 20 - 25% tổng nguồn điện trong sản xuất.
Tuy nhiên, để có năng lượng sạch đòi hỏi DN đầu tư lớn nhưng khả năng thu hồi vốn lại chậm. Như hệ thống năng lượng mặt trời, thời gian thu hồi vốn tính đến 10 - 20 năm. Ông Jean Philippe Denruyter tiết lộ: "Ở các nước, tuy vẫn cao hơn so với sử dụng xăng dầu, than đá, nhưng chi phí để sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng gió đang có xu hướng giảm dần".
Với Việt Nam, các chuyên gia dự báo, thời gian tới với sự tham gia của nhiều DN, chi phí này cũng sẽ giảm, tạo điều kiện cho DN tiếp cận năng lượng sạch dễ dàng hơn. Vấn đề đặt ra là DN phải có ý thức và chuẩn bị lộ trình cụ thể thay vì đợi "nước đến chân rồi mới nhảy".

Chia sẻ cùng bạn về sung túc nhờ huệ trắng

Nhiều người dân chuyên canh loại hoa này cho biết, với mức giá thu mua như hiện nay, sau khi trừ hết chi phí, mỗi công hoa huệ (1.000m2) lời từ 5 - 8 triệu đồng/tháng, cao gấp 3 lần so với trồng các hoa màu khác. Bà Lê Thị Dúng kể: "Từ năm 2007, tôi chuyển 4 công đất sang trồng huệ trắng, trừ hết các khoản chi phí, mỗi năm tôi kiếm được từ 60 - 90 triệu đồng tùy giá cả thị trường".
Chị Lâm Phương Hoa - một đại lý mua bán hoa huệ trắng khá lớn tại xã Phong Hòa cho biết: "Năm nay, nhu cầu đặt hàng tăng đột biến khoảng 20%, dù giá bán ra đã tăng từ 10 - 20% nhưng lượng cung vẫn không đủ cầu. Mỗi ngày tôi giao khoảng 10.000 nhánh huệ”.
Toàn xã Phong Hòa hiện có trên 100 hộ dân trồng huệ trắng chuyên nghiệp trên diện tích chung xấp xỉ 200ha. Cây huệ trắng đã trở thành nguồn thu nhập ổn định và là cây làm giàu cho "vương quốc" huệ trắng Phong Hòa.
Hiện nay, giá mua vào tại các vựa địa phương là 3.500 đồng/nhánh loại 1, loại 2 có giá 2.500 đồng/nhánh, loại 3 là 2.000 đồng/nhánh. Chuyên mua bán huệ trắng tại TP. Long Xuyên, anh Lê Thành Nam phấn khởi nói: "Tôi làm nghề này đã 20 năm, mỗi ngày mua vào, bán ra khoảng 200 nhánh huệ, sau khi trừ các khoản chi phí cũng lời được từ 200.000 - 250.000 đồng".
Nhiều người dân chuyên canh loại hoa này cho biết, với mức giá thu mua như hiện nay, sau khi trừ hết chi phí, mỗi công hoa huệ (1.000m2) lời từ 5 - 8 triệu đồng/tháng, cao gấp 3 lần so với trồng các hoa màu khác. Bà Lê Thị Dúng kể: "Từ năm 2007, tôi chuyển 4 công đất sang trồng huệ trắng, trừ hết các khoản chi phí, mỗi năm tôi kiếm được từ 60 - 90 triệu đồng tùy giá cả thị trường".
Điều đáng nói, trồng huệ trắng có thể thu hoạch quanh năm, kể từ ngày xuống giống cho đến lúc ra hoa chỉ mất 3 tháng, năng suất cao nhất bắt đầu từ năm thứ hai xuống giống. Mùa nắng cũng như mùa mưa, bình quân cứ 10 ngày cắt một lần.
Nếu như trước đây huệ trắng chỉ bán chạy vào những ngày rằm lớn hay lễ, tết thì hiện nay, loại hoa này đã có mặt thường xuyên tại các chợ lớn, các trung tâm thương mại, cửa hàng bán hoa tươi, kéo theo nhiều lao động có việc làm ổn định từ việc mua hoa tại gốc, đem bán lẻ tại các chợ đầu mối.
Theo anh Nguyễn Tấn Hưng (ngụ ấp Tân Hưng, xã Phong Hòa), trồng huệ phải chú ý phòng tránh các loại bệnh thường xuất hiện nhiều vào mùa mưa như bệnh thối bẹ, thối gốc, héo xanh, chai bông do tuyến trùng,... và các loại sâu gặp nhiều vào mùa nắng như nhện đỏ, bọ trĩ (bù lạch).
Công việc trồng huệ cũng vất vả không kém trồng các loại hoa màu khác nhưng có được thị trường và nguồn thu ổn định nên nông dân cũng khấp khởi mừng.

Tìm hiểu cách làm xã hội hóa trung tâm kinh doanh hóa chất tại TP.HCM

Tại cuộc họp mới đây về việc xây dựng trung tâm kinh doanh hương liệu và hóa chất, xử lý tình trạng buôn bán hóa chất độc hại tại khu vực chợ Kim Biên, Phó chủ tịch UBND Trần Vĩnh Tuyến cho biết, Nhà nước sẽ không dùng tiền ngân sách mà kêu gọi tư nhân đầu tư và tổ chức kinh doanh, quản lý trung tâm hóa chất, hương liệu theo tiêu chí do nhà đầu tư đưa ra, cơ quan nhà nước chỉ kiểm tra, giám sát theo quy định pháp luật.
Chuẩn hóa ngành kinh doanh hóa chất
Nhiều năm qua, tại một số quận - huyện của TP.HCM việc sản xuất, buôn bán hóa chất diễn ra tràn lan. Theo thống kê của Sở Công Thương TP.HCM, trên địa bàn quận 5 hiện có 112 cơ sở kinh doanh hóa chất tập trung tại các tuyến đường xung quanh chợ Kim Biên, như Gò Công, Vạn Tượng, Kim Biên, Phan Văn Khỏe,... trong đó chỉ có 57 cơ sở đủ điều kiện kinh doanh, còn lại là những hộ kinh doanh lén lút. Hiện chợ Kim Biên được ví là "chợ tử thần" khi thường xuyên trữ lượng hóa chất lớn, nguy cơ xảy ra cháy nổ rất cao, đe dọa đến an toàn của các hộ dân trong khu vực.
Các chuyên gia cho rằng, việc kiểm soát hóa chất tại TP.HCM gặp khó một phần là do cách thức quản lý chồng chéo, mỗi sở ngành chịu trách nhiệm một nhóm hóa chất. Ví dụ, ngành công thương quản lý hóa chất công nghiệp, tiền chất nông nghiệp; ngành y tế quản lý hóa chất bào chế dược, hóa chất sử dụng trong chất diệt khuẩn; ngành nông nghiệp quản lý hóa chất sử dụng trong trồng trọt, chăn nuôi...
Để quản lý hiệu quả việc sản xuất, kinh doanh hóa chất, bên cạnh việc khẩn trương tổ chức di dời kho hóa chất tại chợ Kim Biên, Thành phố cần tiếp tục kiến nghị Trung ương xem xét, đưa việc quản lý các loại hóa chất về một đầu mối, đồng thời tăng nặng mức xử phạt người vi phạm.
Tại cuộc họp mới đây về việc xây dựng trung tâm kinh doanh hương liệu và hóa chất, xử lý tình trạng buôn bán hóa chất độc hại tại khu vực chợ Kim Biên, Phó chủ tịch UBND Trần Vĩnh Tuyến cho biết, Nhà nước sẽ không dùng tiền ngân sách mà kêu gọi tư nhân đầu tư và tổ chức kinh doanh, quản lý trung tâm hóa chất, hương liệu theo tiêu chí do nhà đầu tư đưa ra, cơ quan nhà nước chỉ kiểm tra, giám sát theo quy định pháp luật.
Khẳng định "UBND Thành phố sẽ tiếp sức cho nhà đầu tư”, ông Tuyến cho rằng, kêu gọi đầu tư theo những tiêu chí mà Thành phố phê duyệt, nhưng sẽ giao cho nhà đầu tư quyền vận hành trung tâm. UBND quận Bình Tân cho biết đã xác định có 3 khu đất từ 7 - 10ha có thể giao xây dựng trung tâm này.
Cần chính sách hỗ trợ
Bà Lý Kim Chi - Chủ tịch Hội Lương thực - Thực phẩm TP.HCM cho biết, một số doanh nghiệp thành viên của Hội có tiềm lực đã đề xuất góp vốn đầu tư xây dựng trung tâm kinh doanh hóa chất, trong đó có nguyên liệu, phụ gia thực phẩm với mô hình giống như một chợ đầu mối hiện đại theo chủ trương xã hội hóa của Thành phố.
Dự kiến, Trung tâm sẽ được đầu tư với các hạng mục chính gồm khu thí nghiệm, khu hướng dẫn sử dụng hóa chất cho ngành thực phẩm, khu kho bãi, khu logistics hóa chất, khu triển lãm nguyên liệu, phụ gia... Diện tích cần cho trung tâm khoảng 3 - 5ha, trong đó, khoảng 1ha dành xây khu nhà lồng chợ để đưa các hộ đang kinh doanh hóa chất từ các quận, huyện về với giá thuê sạp không quá cao.
Hiện đề án đã trình UBND Thành phố và nếu được chấp thuận, Hội Lương thực - Thực phẩm TP.HCM có thể đầu tư ngay và đưa vào hoạt động sau một năm.
"Nhà đầu tư hiện nay rất cần chính sách hỗ trợ từ chính quyền Thành phố như giao đất sạch được miễn thuế trong một số năm đầu, có thể vay vốn với lãi suất ưu đãi. Dự kiến, số vốn đầu tư cho trung tâm kinh doanh hóa chất tập trung nói trên khoảng 100 tỷ đồng", bà Chi cho biết.
Theo bà Lý Kim Chi, chủ đầu tư dự kiến xây dựng một khu kho chứa lớn, tất cả hóa chất nhập về đều chứa ở kho này. Sạp kinh doanh trong nhà lồng chỉ là nơi giao dịch, sau khi lấy phiếu sẽ được giao hàng tại kho. Bằng hình thức này sẽ quản lý được nguồn gốc, xuất xứ hàng ra vào kho, sẽ giúp dễ dàng truy xuất được nguồn gốc của hóa chất.
Về phía người kinh doanh, các tiểu thương chợ Kim Biên lo lắng không biết khi di dời vào chỗ mới, việc buôn bán có được thuận lợi không. Một người gắn bó lâu năm với chợ cho hay: "Ngoài 16 sạp bán chất phụ gia thực phẩm chịu sự kiểm soát của Ban quản lý chợ Kim Biên còn có hàng chục hộ ở đường Vạn Tượng, Kim Biên, Phan Văn Khỏe kinh doanh hóa chất công nghiệp chưa được quản lý. Nhà nước cần phải có chương trình vận động thích hợp để các hộ này cùng di dời".
Ông Minh (kinh doanh hóa chất) kiến nghị: "Tôi chưa biết tin về việc di dời chợ hóa chất, nhưng nếu là chính sách của Nhà nước thì phải tuân thủ. Mong Nhà nước có biện pháp hỗ trợ cho dân đỡ khó khăn bước đầu. Trước đây, cũng có đợt vận động qua trung tâm Phương Đông nhưng chi phí thuê mặt bằng cao hơn ở chợ hiện tại, không biết qua chợ mới giá thuê thế nào".

Vấn đề hiện nay đối với thị trường bán lẻ hiện đại: Vẫn còn "xin - cho"

Từng gặp khó khăn trong việc thuê quầy kệ tại các siêu thị, ông Trương Phú Chiến, - TGĐ Công ty CP Bibica cho biết: "Hiện nay một số siêu thị cho thuê với mức giá từ 40 - 80 triệu đồng/kệ nhỏ/tháng. Năm 2014, Bibica thuê quầy, kệ tại một siêu thị với tổng giá 1,2 tỷ đồng, năm 2015 đã tăng 2,2 tỷ đồng. Không chịu nỗi số tiền lớn như vậy, giải pháp cuối cùng là Bibica phải rút hàng ra khỏi siêu thị đó”. Theo ông Chiến, cho đến thời điểm này vẫn chưa thấy một giải pháp tích cực nào của các siêu thị dành cho nhà sản xuất.
Vấn đề này đã được các DN chia sẻ tại hội thảo "Giải pháp cho thị trường bán lẻ hàng Việt phát triển bền vững" do Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM vừa tổ chức.
Theo bà Lê Thị Thanh Lâm - Phó TGĐ Công ty CP Sài Gòn Food, hệ thống bán lẻ Việt Nam những năm gần đây phát triển mạnh nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu thị trường, nên vô tình đã tạo ra "quyền lực" cho các nhà bán lẻ, cụ thể là các siêu thị. Viện dẫn điều này, bà Lâm cho hay, chỉ cần một DN đưa hàng ra khỏi siêu thị thì sẽ có hàng tá DN khác "xếp hàng thay thế”. Điều này vô tình xác lập quan hệ không công bằng, DN và nhà phân phối không còn là quan hệ đối tác mà phải "xin - cho".
"Từ một thống kê về mức chiết khấu của DN thủy sản cung cấp hàng hóa cho siêu thị cho thấy, với hệ thống bán lẻ Việt Nam cao nhất là 10%, còn với các siêu thị có vốn FDI là từ 10 - 30%. Kinh doanh trong thời điểm hiện nay lãi vài phần trăm đã khó, với mức chiết khấu cao như vậy nhưng vẫn có nhiều DN muốn đem hàng vào siêu thị, nên đã tạo ra quyền lực cho nhà phân phối", bà Lâm nói.
Từng gặp khó khăn trong việc thuê quầy kệ tại các siêu thị, ông Trương Phú Chiến, - TGĐ Công ty CP Bibica cho biết: "Hiện nay một số siêu thị cho thuê với mức giá từ 40 - 80 triệu đồng/kệ nhỏ/tháng. Năm 2014, Bibica thuê quầy, kệ tại một siêu thị với tổng giá 1,2 tỷ đồng, năm 2015 đã tăng 2,2 tỷ đồng. Không chịu nỗi số tiền lớn như vậy, giải pháp cuối cùng là Bibica phải rút hàng ra khỏi siêu thị đó”. Theo ông Chiến, cho đến thời điểm này vẫn chưa thấy một giải pháp tích cực nào của các siêu thị dành cho nhà sản xuất.
Đồng tình với ý kiến ấy, ông Nguyễn Quốc Hùng - Phó giám đốc phụ trách kinh doanh Doanh nghiệp tư nhân Chế biến thực phẩm Hạnh Phúc chia sẻ, việc các siêu thị tăng mức chiết khấu thương mại đối với DN là có thật. Đó cũng là lý do Hạnh Phúc đã từ chối đưa nước mắm vào một số siêu thị, dù rằng được họ chào mời chứ không phải chủ động tìm đến.
Với các DN Việt như Hạnh Phúc, kênh bán hàng truyền thống vẫn giúp DN tồn tại và phát triển. Siêu thị được xem là kênh bán hàng tốt với điều kiện đáp ứng được tiêu chí "3 win", tức là có lợi cho nhà sản xuất, có lợi cho nhà bán lẻ và có lợi cho người tiêu dùng. Việc tăng mức chiết khấu thương mại quá cao, lại không chia sẻ cho người tiêu dùng nên chỉ có lợi cho mỗi nhà bán lẻ. Vì thế Hạnh Phúc không hợp tác.
Ở góc độ nhà bán lẻ, bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Phó TGĐ Saigon Co.op cho biết, dù đang đương đầu với nhiều khó khăn trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ, nhưng Saigon Co.op luôn khẳng định đồng hành cùng DN sản xuất. Hệ thống Co.opmart hiện có hơn 35.000 mặt hàng, trong đó hàng Việt Nam chiếm đến 90%. Đồng thời, Saigon Co.op cũng đẩy mạnh hợp tác với nhà sản xuất để sản xuất những mặt hàng mang thương hiệu Co.opmart. Đây được xem là mối quan hệ tương hỗ giúp DN sản xuất phát huy tối đa công suất máy móc, thiết bị.
"Nhiều nhà sản xuất có năng lực cao đồng tình trong việc phối hợp với Saigon Co.op sản xuất nhãn hàng riêng vì như vậy DN sẽ có thêm điều kiện quảng bá, tiếp cận thị trường. Đến nay, Saigon Co.op đã sở hữu trên 1.000 mặt hàng mang thương hiệu Co.opmart, bao gồm ngành hàng tiêu dùng, tươi sống, hóa mỹ phẩm, may mặc...", bà Thủy nói.
Để tìm giải pháp cho các DN sản xuất, ông Trương Phú Chiến kiến nghị, các DN ở những ngành hàng khác nhau có thể cùng xây dựng hệ thống phân phối để đưa hàng về vùng sâu vùng xa, thị trường nông thôn. Theo ông Chiến, Bibica đang sở hữu 125.000 điểm bán hàng. Do đó, các DN và một số hiệp hội ngành nghề nên xem xét việc "ngồi lại với nhau" để tìm giải pháp.
Trước vấn đề này, ông Nguyễn Ngọc Hòa - Phó giám đốc Sở Công Thương TP.HCM phân tích: Quan hệ giữa nhà phân phối và nhà sản xuất là quan hệ giữa người mua và người bán. Thế mạnh sẽ nghiêng về phía chủ động, có lợi thế hơn trong quá trình đàm phán. Nhà sản xuất nếu muốn chiếm thế chủ động, phải đảm bảo chất lượng sản phẩm không những tốt mà còn có tính độc đáo và khác biệt.
"Làm được điều này chắc chắn các nhà bán lẻ sẽ đón nhận hàng hóa của DN. Kênh bán hàng hiện đại mới chiếm 25% trên tổng thị trường, do đó, nếu nhà sản xuất có kế hoạch phân phối trên cả kênh bán lẻ hiện đại và truyền thống, cũng như không để bị lệ thuộc vào bất kỳ một kênh phân phối nào thì vẫn có thể chủ động để điều hòa hàng hóa", ông Hòa chia sẻ.