Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016

Vì sao người dùng vẫn e dè với thanh toán thông minh?

Dù đã bắt đầu chịu thanh toán online nhưng thói quen người dùng hiện nay thường giao dịch điện tử với đơn hàng có giá trị nhỏ hơn 1 triệu đồng. Khi cần mua hàng hóa giá trị cao, phần lớn chọn thanh toán tiền mặt. Nếu ứng dụng thanh toán điện tử triển khai tốt sẽ giúp khách hàng lựa chọn những sản phẩm dịch vụ có giá trị cao hơn, nghĩa là trị giá của thương mại điện tử Việt Nam sẽ tăng cao hơn nữa.Đồng quan điểm, ông Trần Hải Linh - TGĐ Công ty Ví FPT cho biết: "Thách thức lớn nhất là niềm tin và sự chọn lựa của khách hàng".
Điều này cho thấy người dùng vẫn còn e dè với dịch vụ thanh toán thông minh mà nhiều DN đổ tiền vào đầu tư.
Chìa khóa niềm tin
Đánh giá "sức khỏe" của các ví điện tử tại Việt Nam hiện nay, ông Trần Trọng Tuyến - CEO Công ty Công nghệ DKT (đơn vị sở hữu Bizweb) cho biết, về mặt công nghệ hoặc hạ tầng kỹ thuật thì các dịch vụ thanh toán trung gian của Việt Nam đã đáp ứng khá tốt. Nhưng vấn đề hiện nay là bài toán "con gà - quả trứng" giữa người mua và chủ shop (merchant).
Phần lớn các chủ shop đều muốn thanh toán online nhưng lại không có nhiều khách hàng mặn mà với hình thức này nên không thấy cần thiết tích hợp hệ thống thanh toán thông minh. Mà không nhiều cửa hàng có phương thức thanh toán trung gian nên khách hàng tiếp tục không màng đến việc sử dụng các phương thức khác ngoài COD và chuyển khoản.
Vì chưa đủ thuận lợi và tiện dụng trong việc thanh toán online nên người dùng chưa có thói quen sử dụng ví điện tử. Cảm giác tiền bị giữ ở một ví ảo trong thời gian dài nhưng không thanh toán được nhiều dịch vụ khiến người người dùng chưa mặn mà với thanh toán trung gian.
Ông Tuyến nhận định: "Cuộc đua của các đơn vị thanh toán trung gian thực chất là cạnh tranh về nguồn vốn và nguồn lực dài hơi để tạo ra số người dùng đủ lớn, hình thành thói quen thanh toán trung gian. Đây là cuộc đua về sức bền trong việc tạo ra người dùng".

Dù đã bắt đầu chịu thanh toán online nhưng thói quen người dùng hiện nay thường giao dịch điện tử với đơn hàng có giá trị nhỏ hơn 1 triệu đồng. Khi cần mua hàng hóa giá trị cao, phần lớn chọn thanh toán tiền mặt. Nếu ứng dụng thanh toán điện tử triển khai tốt sẽ giúp khách hàng lựa chọn những sản phẩm dịch vụ có giá trị cao hơn, nghĩa là trị giá của thương mại điện tử Việt Nam sẽ tăng cao hơn nữa.Đồng quan điểm, ông Trần Hải Linh - TGĐ Công ty Ví FPT cho biết: "Thách thức lớn nhất là niềm tin và sự chọn lựa của khách hàng".
"Giá trị giao dịch trên sendo.vn của chúng tôi có thể tăng 30 - 40% với sự hiện diện của Ví FPT", ông Linh tính toán.
Tuy nhiên, không dừng lại ở đó, trong thời gian tới, khách hàng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ khác của FPT như internet, dịch vụ lưu trữ dữ liệu trực tuyến Fshare, quảng cáo trực tuyến... cũng có thể sử dụng được dịch vụ này. Lúc đó, giá trị khai thác của Ví FPT sẽ cao hơn hẳn.
Cần một "ngôi vương"
Theo ông Phạm Thành Đức - TGĐ M_Service (đơn vị sở hữu ví điện tử MoMo), các nhà cung cấp đang cần dịch vụ thanh toán trung gian, nhất là việc thu hồi tiền điện nước, mua hàng trực tuyến... Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa có được hệ sinh thái hoàn chỉnh cho thương mại điện tử.
"Hệ sinh thái lại là phức tạp, tốn công sức lẫn tài lực để đầu tư. Hiện MoMo đang phải làm cho mọi thứ xảy ra đồng thời: Xây điểm giao dịch để kết nối với người đã có tài khoản ngân hàng, khách hàng", ông Đức chia sẻ.
Không chỉ vậy, thị trường thanh toán trung gian Việt Nam có đến hơn 15 đơn vị tham gia - tương đối nhiều nhưng lại chưa đáp ứng được nhu cầu thanh toán. Bởi, các đơn vị thanh toán trung gian chỉ mới có dữ liệu khách hàng nằm trong hệ sinh thái các sản phẩm dịch vụ riêng của họ mà chưa mở rộng ra toàn bộ người dùng. Do vậy, một khách hàng phải cùng lúc dùng nhiều cổng thanh toán để thanh toán các loại dịch vụ khác nhau.
"Các ví điện tử, các đơn vị thanh toán trung gian đang đi theo những hướng khác nhau và hiện tại chưa tạo ra thói quen chung cho khách hàng nên sự cạnh tranh giữa các bên hầu như chưa có. Khách hàng cần một cổng thanh toán được chấp nhận tại hầu hết các cửa hàng, ví dụ trên thế giới là Pay Pal", ông Tuyến khẳng định.
Có dịch vụ, có thị trường và đang dần có thói quen sử dụng ví điện tử, khả năng dịch vụ thanh toán trung gian phát triển là chuyện rất gần. Tuy nhiên, để ví điện tử mở được cánh cửa cho thương mại điện tử Việt Nam bước sang trang mới, các DN cung cấp dịch vụ phải tính toán lại và mạnh mẽ hơn trong chiến lược chinh phục thị trường. Bởi người dùng đang cần những đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán trung gian đủ mạnh và đủ rộng để bao phủ nhu cầu thanh toán.

Vì sao xảy ra hiện tượng cà phê Việt: Mất mùa, chưa được giá?

Hiện lượng cà phê tiêu thụ trong nước chiếm khoảng 10% trong tổng sản lượng cà phê của Việt Nam, tăng 5% so với 10 năm trước. Bà Phạm Thị Kim Dung - Trưởng nhóm phân tích ngành hàng, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (IPSARD) cho hay, đối với thị trường trong nước, các doanh nghiệp rang xay cà phê cung ứng dựa trên đơn hàng ngắn hạn và mua bán giao ngay cho các nhà bán lẻ. Nhu cầu trong nước tăng, sản lượng giảm và nguồn cung cho xuất khẩu giảm sẽ là yếu tố thúc đẩy giá cà phê xuất khẩu. Thế nhưng, thực tế là giá cà phê xuất khẩu dựa nhiều vào giá hợp đồng trước đó và các nhà giao dịch vẫn đang chờ dấu hiệu rõ rệt hơn về sản lượng cà phê Việt Nam nên giá gần như không biến động nhiều trong thời gian qua.
Theo Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa), hiện sản xuất cà phê của Việt Nam đang chịu ảnh hưởng nặng do hạn hán tồi tệ nhất trong 3 thập kỷ qua. Thiếu nước tưới trầm trọng đe dọa trên 165.000ha (gần 30% tổng diện tích trồng cà phê ở Tây Nguyên), trong đó 40.000ha bị chết.
Chủ tịch Vicofa Lương Văn Tự cho rằng, năm 2016, xuất khẩu cà phê của Việt Nam có thể giảm 25%, xuống mức thấp nhất trong mười năm trở lại đây, với khoảng 1 triệu tấn. Thị trường cà phê thế giới đã biết cà phê Việt Nam mất mùa do hạn hán, nhưng giá cà phê vẫn chưa tăng mạnh, khiến nông dân và các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nước ta vẫn chưa được hưởng lợi, thậm chí còn đối mặt với nhiều khó khăn hơn.
Theo báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, xuất khẩu cà phê 4 tháng đầu năm 2016 đạt 681.000 tấn, trị giá 1,16 tỷ USD, tăng 44,6% về khối lượng nhưng chỉ tăng 18,2% về giá trị. Cũng theo Bộ này, giá cà phê xuất khẩu bình quân 3 tháng đầu năm giảm 18,3% so với cùng kỳ năm 2015, đạt 1.697 USD/tấn. Cà phê Robusta giao dịch tại London chỉ ở mức 1.554 USD/tấn, không tăng so với những tháng trước đó.
Hiện lượng cà phê tiêu thụ trong nước chiếm khoảng 10% trong tổng sản lượng cà phê của Việt Nam, tăng 5% so với 10 năm trước. Bà Phạm Thị Kim Dung - Trưởng nhóm phân tích ngành hàng, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (IPSARD) cho hay, đối với thị trường trong nước, các doanh nghiệp rang xay cà phê cung ứng dựa trên đơn hàng ngắn hạn và mua bán giao ngay cho các nhà bán lẻ. Nhu cầu trong nước tăng, sản lượng giảm và nguồn cung cho xuất khẩu giảm sẽ là yếu tố thúc đẩy giá cà phê xuất khẩu. Thế nhưng, thực tế là giá cà phê xuất khẩu dựa nhiều vào giá hợp đồng trước đó và các nhà giao dịch vẫn đang chờ dấu hiệu rõ rệt hơn về sản lượng cà phê Việt Nam nên giá gần như không biến động nhiều trong thời gian qua.
Các chuyên gia trong ngành cho rằng, sở dĩ giá cà phê niên vụ 2014 - 2015 thấp như vậy là do thị trường thế giới biến động mạnh về giá vàng, dầu thô và tỷ giá của đồng USD với các đồng tiền khác khiến các nhà đầu cơ điều chỉnh suất đầu tư vào lĩnh vực có lợi nhất, và khi đó, họ nhanh chóng bán ra khiến giá cà phê rớt nhanh.
Chưa kể lâu nay, khi tham gia mua bán cà phê trên thị trường thế giới, do không chủ động được nên đa phần phía Việt Nam phải bán trừ lùi từ 50 - 100 USD/tấn. Tính bình quân, mỗi năm cà phê Việt Nam mất đi khoảng 150 triệu USD vì nguyên nhân này khiến giá đã giảm lại càng giảm hơn.
Ông Lê Tiến Hùng - TGĐ Công ty TNHH MTV xuất nhập khẩu 2-9 Dak Lak (Simexco DakLak) cho rằng, hạn hán sẽ gây thêm nhiều khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu cà phê. Nguyên nhân là do nông dân trồng cà phê hy vọng "mất mùa thì được giá” nên găm hàng để chờ giá lên vào cuối vụ. Thế nhưng thực tế không phải như vậy vì mặt hàng cà phê nằm ngoài quy luật trên.
Cũng theo ông Hùng, dù sản xuất được nhiều nhưng cà phê Việt Nam lại không khống chế được giá mà bị phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới. Bằng chứng là thời gian qua cà phê mất mùa lại bị mất luôn cả giá, đầu vụ 42.000đ/kg, rồi hạ dần xuống mức dưới 40.000đ/kg. Doanh nghiệp xuất khẩu không mua đủ hàng, trong khi đó thông tin về mất mùa càng tăng thêm quyết tâm trữ hàng trong dân. Điều này khiến cả doanh nghiệp và nông dân đều chịu thiệt.
Bên cạnh đó, hiện các doanh nghiệp nước ngoài thu mua cà phê của Việt Nam tổ chức liên kết chặt chẽ, thay đổi chính sách thu mua, thanh toán hợp đồng sau 200 - 250 ngày khiến doanh nghiệp trong nước đã khó nay lại càng thêm khó.

Cùng tìm hiểu về một số xu hướng chi phối ngành chế biến thực phẩm

Các chuyên gia nhận định, các sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ cũng sẽ được người tiêu dùng ưa chuộng. Theo ông Lân, nước ta có lợi thế để sản xuất các sản phẩm hữu cơ. Dù sản lượng của những sản phẩm này có thể không cao như sản phẩm công nghiệp nhưng giá trị gia tăng có thể gấp 5 lần. Đây sẽ là hướng đi cho các doanh nghiệp Việt muốn tránh cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn lớn.
Tại diễn đàn cấp cao của ngành sản xuất thực phẩm diễn ra ở TP.HCM ngày 19/5, ông Châu Thịnh Lân - Giám đốc Công ty TNHH chế biến thực phẩm Việt Ấn nhận định, xu hướng tiêu dùng thực phẩm tại thị trường Việt Nam trong tương lai sẽ theo xu thế phát triển của xã hội công nghiệp. Theo đó, người tiêu dùng sẽ giảm sử dụng các sản phẩm thực phẩm theo lối truyền thống để chuyển dần sang các sản phẩm chế biến sẵn.
Riêng đối với thực phẩm chế biến ăn liền vẫn còn dư địa lớn, đây là phân khúc mà các doanh nghiệp nhỏ có thể tránh việc cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp lớn để có thể đi thẳng vào các kênh phân phối bán lẻ.
Xu hướng chế biến sẵn cũng đã xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường nước chấm và gia vị. Các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước liên tục tạo ra những sản phẩm mới theo hướng pha trộn sẵn, mang đến sự tiện lợi và tiết kiệm thời gian cho người dùng. Do đó, để cạnh tranh được trên thị trường, các doanh nghiệp nội phải tạo ra sự khác biệt thì mới có được phân khúc thị trường riêng.
Các chuyên gia nhận định, các sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ cũng sẽ được người tiêu dùng ưa chuộng. Theo ông Lân, nước ta có lợi thế để sản xuất các sản phẩm hữu cơ. Dù sản lượng của những sản phẩm này có thể không cao như sản phẩm công nghiệp nhưng giá trị gia tăng có thể gấp 5 lần. Đây sẽ là hướng đi cho các doanh nghiệp Việt muốn tránh cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn lớn.
Theo nhiều chuyên gia, thách thức lớn của ngành công nghiệp thực phẩm hiện nay ngoài việc sản xuất vẫn mang tính thủ công, chưa tinh chế sâu, chủ yếu cạnh tranh về giá, mạng lưới phân phối thiếu tính liên kết; vấn nạn sử dụng chất phụ gia, tẩy trắng, thuốc kháng sinh sẽ ảnh hưởng đến tiềm năng xuất khẩu và mở rộng thị trường của các doanh nghiệp.
Để gia tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp, Phó giáo sư Chutima Waisaravutt (Đại học Kasetsart, Thái Lan) cho rằng, doanh nghiệp cần lắng nghe và thấu hiểu người tiêu dùng. Theo bà Chutima, người tiêu dùng hiện nay coi thực phẩm không chỉ để đưa vào dạ dày mà còn là phong cách sống. Bên cạnh đó, với sự phát triển của các ứng dụng công nghệ thông tin vào thương mại điện tử, thói quen mua hàng của người dùng cũng thay đổi. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm có thể trực tiếp phân phối các sản phẩm của mình đến khách hàng qua internet. Tuy nhiên, cần hoàn thiện khâu tiếp thị sản phẩm, dịch vụ hậu mãi và giao nhận.
Rõ ràng, để nâng cao sức cạnh tranh và hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp thực phẩm nội sẽ còn nhiều việc phải làm, trong đó có việc đầu tư vào khâu nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D), đẩy mạnh công nghệ. Theo các khảo sát, đầu tư cho R&D trong lĩnh vực thực phẩm và đồ uống thấp hơn so với các lĩnh vực khác từ 0,3 đến 0,8%.

Người trẻ tự tin nhập cuộc với cà phê chuỗi

Yếu tố thứ hai là nhân viên. Mọi thứ ở bất kỳ chuỗi cà phê nào đều có thể bị sao chép, từ menu đồ uống, cách bố trí không gian, gam màu chủ đạo cho đến cách pha chế, duy chỉ có sự nhiệt tình trong thái độ phục vụ của nhân viên là làm nên sự khác biệt. Đối với các chuỗi cà phê từ nước ngoài, nhân viên thường chỉ chú trọng phục vụ thức uống chứ không quan tâm nhiều đến việc tạo thiện cảm với khách hàng, còn các chuỗi cà phê trong nước thì chú trọng cả hai.
Trải nghiệm với các chuỗi cà phê ngoại
DN ngoại lớn nhất trên thị trường cà phê chuỗi hiện nay là Starbucks. Trả lời phỏng vấn báo chí gần đây, bà Patricia Marques - CEO của Starbucks Việt Nam cho biết, Starbucks đã mở được 19 cửa hàng ở TP.HCM và Hà Nội. Bà cũng chia sẻ là ở các thành phố lớn của Việt Nam có quá nhiều quán cà phê so với các thị trường khác nên lượng khách mỗi cửa hàng là không nhiều. Khách hàng vào quán hiện cũng đã "sành" hơn, như trước đây chỉ gọi đúng một loại đồ uống phổ biến nhất, còn hiện nay họ chọn theo sở thích.
Một chuỗi cà phê ngoại khác là Caffé Bene đến từ Hàn Quốc với kế hoạch trong vòng 5 năm mở khoảng 300 cửa hàng tại Việt Nam, nhưng rồi phải giảm xuống còn 100 cửa hàng. Nguyên nhân, theo một vị đồng sáng lập chuỗi này là thị trường cà phê Việt Nam có quá nhiều "ông lớn" cạnh tranh trong cùng một phân khúc. Giá mặt bằng cũng là một vấn đề khá nan giải nên kế hoạch phát triển của chuỗi Caffé Bene phải điều chỉnh.
Tại góc đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Nguyễn Thị Minh Khai (quận 1, TP.HCM) trước đây có một cửa hàng cà phê của một thương hiệu khá lớn đến từ Úc nhưng nay đã đóng cửa, trả lại mặt bằng. Điều này cho thấy ngay cả những chuỗi cà phê đã thành công ở nước sở tại hay ở nước khác, khi nhượng quyền vào Việt Nam, dù tiềm lực tài chính dồi dào cũng phải thoái lui trước sự cạnh tranh gay gắt của thị trường.
Một chuyên gia về nhượng quyền thương hiệu cho biết, mặt bằng tốt ở trung tâm TP.HCM hiện nay đều có giá từ vài trăm triệu đồng/tháng. Với mức giá thuê này thì các chuỗi cà phê định vị ở phân khúc cao cấp như Starbucks, Caffé Bene, Gloria Jeans Coffee... phải có chi phí rất lớn.
"Một vấn đề tối quan trọng trong kinh doanh chuỗi là phải nắm bắt nhanh nhất nhu cầu, thị hiếu của khách hàng để kịp thời thay đổi cho phù hợp", vị chuyên gia này nói.
Theo CEO của một chuỗi cà phê nội đang khá thành công, có 2 yếu tố quyết định sự thành bại của cà phê chuỗi là khách hàng và nhân viên.
Khách hàng ở các thành phố lớn như TP.HCM và Hà Nội vẫn thích không gian thân thuộc để trò chuyện cùng gia đình, bạn bè, cà phê chỉ là chất xúc tác cho nhu cầu kết nối. Những chuỗi ngoại nào chỉ rập khuôn phong cách nước sở tại thì rất khó thành công. Ngay cả Starbucks vốn thiên về phong cách take away, khi vào Việt Nam đã phải thay đổi concept quán với nhiều bàn ghế, ổ điện và wifi free nhằm thu hút khách hàng đến làm việc, trò chuyện.
Yếu tố thứ hai là nhân viên. Mọi thứ ở bất kỳ chuỗi cà phê nào đều có thể bị sao chép, từ menu đồ uống, cách bố trí không gian, gam màu chủ đạo cho đến cách pha chế, duy chỉ có sự nhiệt tình trong thái độ phục vụ của nhân viên là làm nên sự khác biệt. Đối với các chuỗi cà phê từ nước ngoài, nhân viên thường chỉ chú trọng phục vụ thức uống chứ không quan tâm nhiều đến việc tạo thiện cảm với khách hàng, còn các chuỗi cà phê trong nước thì chú trọng cả hai.
Sự "trỗi dậy" của các chuỗi cà phê trong nước
Áp lực cạnh tranh là rất lớn nhưng thị trường cà phê ở Việt Nam vẫn đủ rộng để doanh nhân trẻ thử sức. Một cái tên không thể không nhắc đến khi nói về ngành kinh doanh cà phê là Đào Chi Anh và chuỗi The KAfe - chuỗi cửa hàng cà phê đô thị đầu tiên phục vụ ẩm thực fusion tại Việt Nam. Tháng 10/2015, The KAfe đã nhận được khoản đầu tư 5,5 triệu USD từ quỹ đầu tư tại London và Hong Kong.
Một chuỗi cà phê được cho là "chất" nhất Hà Nội trong 2 năm vừa qua chính là Cộng. Mới đầu, Cộng chỉ là một quán cà phê nằm khiêm tốn bên đường Triệu Việt Vương, Hà Nội. Chỉ sau vài năm, Cộng đã trở thành một hệ thống quán cà phê với 19 cửa hàng tại Hà Nội lẫn Đà Nẵng. Và mới đây, Cộng lại cho ra mắt 2 cửa tiệm tại trung tâm TP.HCM với nơi đầu tiên trên đường Lý Tự Trọng và một quán mặt tiền đường Bùi Viện.
Trong năm 2015, một cái tên mới cũng đang tạo ấn tượng mạnh trong giới trẻ, những người đam mê cà phê và các nhà đầu tư là chuỗi "Ngôi nhà cà phê” - The Coffee House. Bắt đầu từ một cửa hàng vào tháng 9/2014, đến nay The Coffee House đã có 18 cửa hàng tại TP.HCM, Hà Nội và đây chưa phải là cột mốc của chuỗi này. Với tốc độ mở cửa hàng như vậy, có thể nói The Coffee House là chuỗi cà phê có tốc độ phát triển nhanh nhất thị trường hiện nay.
Dù nhận định thị trường cà phê Việt Nam đang ở vào giai đoạn cạnh tranh khốc liệt nhất nhưng CEO Nguyễn Hải Ninh của The Coffee House vẫn tự tin dự báo mức tăng trưởng của chuỗi trong năm 2016 sẽ đạt 100%.
Sự thành công của The KAfe, Cộng và The Coffee House cho thấy những thương hiệu làm tốt là những thương hiệu có concept tốt, am hiểu thị trường Việt Nam, đạc biệt là kinh doanh vì khách hàng. Đó cũng là niềm tự hào của thế hệ doanh nhân mới khi quyết tâm khẳng định mình trên thị trường và mang những giá trị ẩm thực, con người Việt Nam đến thế giới, dù nhiều thương hiệu phương Tây đang "tấn công" thị trường Việt Nam.

Từ đầu tư đến thương mại mặt hàng thái

Nhìn chung trong quý I/2016, Việt Nam nhập siêu từ khối ASEAN với mức hơn 1,72 tỷ USD. Một trong số đối tác có mức thâm hụt thương mại lớn nhất của Việt Nam là Thái Lan, Singapore. Được biết, 3 tháng đầu năm 2016, kim ngạch hai chiều Việt - Thái đạt 2,65 tỷ USD (mức này chiếm đến 28% tổng kim ngạch chung giữa Việt Nam - ASEAN), trong đó giá trị nhập khẩu từ Thái đạt 1,818 tỷ USD, tăng gần 8,3% so với cùng kỳ 2015.
Chưa đầy nửa đầu năm 2016, chuỗi bán lẻ Big C Việt Nam (33 trung tâm thương mại, siêu thị và đại siêu thị), hệ thống bán sỉ Metro Cash & Carry (19 trung tâm), trang thương mại điện tử Zalora Việt Nam đã rơi vào tay người Thái. Trước đó, chuỗi siêu thị điện máy Nguyễn Kim (21 siêu thị), chuỗi cửa hàng tiện lợi Family Mart (đổi tên thành B's mart) cũng đã thuộc về doanh nghiệp (DN) Thái. Song song với đầu tư, quan hệ thương mại Việt - Thái cũng tăng trưởng mạnh, chủ yếu là nhập khẩu hàng hóa từ Thái.
Thay vì lo lắng thị trường nội địa bị hàng Trung Quốc chi phối, giờ đây DN Việt Nam bắt đầu e ngại sự lớn mạnh của hàng Thái. Nhiều mặt hàng nhập khẩu từ Thái Lan đã lần lượt "soán ngôi" hàng Trung Quốc, dẫn đầu về giá trị nhập khẩu vào Việt Nam. Theo báo cáo của Hiệp hội Rau quả Việt Nam, quý I/2016, kim ngạch nhập khẩu rau quả Việt Nam đạt 156,8 triệu USD, tăng 42,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Điều đáng nói, rau quả từ Thái đã vượt lên Trung Quốc để dẫn đầu thị phần tại Việt Nam, với kim ngạch đạt gần 60 triệu USD, tăng 125% so với cùng kỳ năm 2015. Cụ thể, trong nhóm 10 thị trường lớn cung cấp rau quả cho Việt Nam, Thái Lan từ 24,13% thị phần năm 2015 đã vươn lên chiếm 38,18% thị phần trong năm nay. Ngược lại, thị phần của rau quả Trung Quốc tại Việt Nam giảm từ 27,7% xuống còn 24,98%, dù thực tế, giá rau quả Thái cao hơn.
Nhìn chung trong quý I/2016, Việt Nam nhập siêu từ khối ASEAN với mức hơn 1,72 tỷ USD. Một trong số đối tác có mức thâm hụt thương mại lớn nhất của Việt Nam là Thái Lan, Singapore. Được biết, 3 tháng đầu năm 2016, kim ngạch hai chiều Việt - Thái đạt 2,65 tỷ USD (mức này chiếm đến 28% tổng kim ngạch chung giữa Việt Nam - ASEAN), trong đó giá trị nhập khẩu từ Thái đạt 1,818 tỷ USD, tăng gần 8,3% so với cùng kỳ 2015.
Cùng với rau quả, trong quý I/2016, lượng xe Thái Lan nhập khẩu vào Việt Nam đạt 7.814 chiếc, trị giá 141,6 triệu USD, chiếm đến 39,7% tổng lượng xe nguyên chiếc nhập khẩu của cả nước và chiếm 29,1% về giá trị. Chỉ tính riêng ô tô nhập khẩu từ Thái, con số này đã tăng gần gấp đôi về số lượng và giá trị so với lượng nhập khẩu chung của cả nước ở thời điểm cùng kỳ năm ngoái.
Với kết quả này, Thái Lan vượt qua Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và dẫn đầu thị trường xe nhập khẩu tại Việt Nam. Số liệu từ Tổng cục Hải quan gần đây cũng cho thấy, 4 tháng đầu năm, Thái Lan vẫn giữ vững ngôi đầu về xe nhập khẩu, với 10.155 xe, chiếm 35% lượng xe nhập khẩu của cả nước.
Một trong những lý do khiến ô tô nhập khẩu từ Thái vào Việt Nam tăng mạnh trong những tháng đầu năm nay được lý giải là từ ngày 1/1/2016, thuế suất thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ các quốc gia ASEAN đã giảm từ mức 50% xuống còn 40%, theo lộ trình từ đầu năm 2017 sẽ tiếp tục giảm còn 30% và sang đầu năm 2018 là 0% khi thực thi hiệp định thương mại Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA).
Theo Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Đỗ Nhất Hoàng, chưa bao giờ làn sóng đầu tư, hàng hóa từ Thái Lan lại diễn ra mạnh mẽ như trong 2 năm trở lại đây. DN Thái Lan không "kèn trống" nhưng vào Việt Nam đúng thời điểm và nắm giữ đúng những lĩnh vực có tác động đến sản xuất, kinh doanh của DN trong nước và tiêu dùng thiết yếu của người dân (lĩnh vực F&B, hàng tiêu dùng nhanh, xây dựng...).
Điển hình tỷ phú giàu thứ ba Thái Lan Charoen Sirivadhanabhakdi, song song với việc thâu tóm một số hệ thống phân phối tại thị trường Việt Nam, thông qua công ty thành viên là ThaiBev (DN bia lớn nhất ở Thái với thương hiệu Chang Beer), nhà Sirivadhanabhakdi đã gián tiếp nắm giữ 11% vốn điều lệ của Vinamilk.
Đồng thời tỷ phú này từng bày tỏ ý định mua 40% cổ phần của Sabeco (tương ứng với giá trị gần 1 tỷ USD). Việc mua cổ phần Sabeco không chỉ có ThaiBev mà cả Singha Asia (thành viên của Tập đoàn đa ngành Boon Rawd Brewer) của tỷ phú giàu thứ 7 Thái Lan, Santi Bhirombhakdi cũng đã "đánh tiếng".
Vào cuối tháng 12/2015, Singha Asia đã chi 1,1 tỷ USD để sở hữu 25% cổ phần của Masan Consumer Holdings (hàng tiêu dùng) và 33,3% cổ phần của Masan Brewery (đồ uống) thuộc Tập đoàn Masan.
Masan Consumer được xem là một trong những nhà sản xuất hàng tiêu dùng lớn nhất Việt Nam và DN này đã thực hiện nhiều thương vụ mua bán, sáp nhập (M&A) với Nước khoáng Vĩnh Hảo, Vinacafé, Saigon Nutri Food (sản xuất thực phẩm đóng hộp, xúc xích), Cholimex Food (sản xuất tương ớt, nước chấm...). Thương vụ này theo như công bố hồi tháng 12/2015 sẽ bắt đầu có hiệu lực từ đầu năm nay.
Theo StoxPlus, năm 2014, Thái Lan dẫn đầu hoạt động M&A tại Việt Nam, với giá trị các thương vụ trên 800 triệu USD. Đến năm 2015, Thái Lan vẫn nằm trong 3 quốc gia dẫn đầu về M&A (cùng với Hong Kong và Nhật Bản) với giá trị giao dịch đạt 209 triệu USD và chủ yếu là nắm giữ cổ phần chi phối.

Vì sao Việt Nam được chọn là thị trường mục tiêu của hàng Thái?

Theo đại diện Sunshine, hiện khách hàng chính của DN tại Thái Lan là khách du lịch, trong đó đáng chú ý là khách du lịch đến từ Trung Quốc. "Những năm gần đây, khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam ngày càng nhiều, nên chúng tôi muốn khai thác thị trường Việt Nam, dù biết rằng Việt Nam cũng có những vùng trồng sầu riêng, nhưng điều khiến chúng tôi tự tin là hương vị sầu riêng Việt Nam không ngon bằng của Thái Lan", phía Sunshine tự tin khẳng định.
Thông qua đầu tư của các tập đoàn hàng đầu và sự có mặt của các ngân hàng Thái Lan cho thấy có thể trong tương lai không xa, hàng Thái sẽ "bủa vây" thị trường Việt Nam. Suy luận ấy có chính xác?
Theo chia sẻ của nhiều doanh nghiệp (DN) tại hội chợ "Thaifex - World of Food Asia 2016" - nơi quy tụ, cung cấp cơ hội giao thương cho các nhà khai thác trong ngành công nghiệp thực phẩm diễn ra từ ngày 25 - 29/5 tại Trung tâm Muang Thong Thani, Thái Lan (với 4.600 gian hàng của hơn 1.800 công ty đến từ 33 quốc gia), dù đánh giá cao thị trường Việt Nam, nhưng Việt Nam cũng chỉ là một trong số rất nhiều thị trường trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN mà DN Thái Lan nhắm đến .
Theo Pratchaya Arjfak - đại diện Bộ phận phát triển kinh doanh, Công ty Liên doanh Thái Lan và Đức Meat Product (TGM - DN đầu ngành với 53 năm sản xuất xúc xích, dăm bông, thịt xông khói tại Thái Lan), TGM đang có ý định đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Campuchia, Lào, Myanmar, Hong Kong. Tại Việt Nam, TMG đang cần tìm đại lý để phân phối hàng hóa nhưng chưa tìm được đối tác đủ tin cậy để có thể đàm phán. Vừa qua TMG đã đầu tư 35,7 triệu USD để xây dựng nhà xưởng nhằm khai thác thị trường các nước trong AEC khi hàng rào thuế quan của khu vực này được gỡ bỏ.
Cũng đang có ý định tìm hiểu thị trường Việt Nam, đại diện Sunshine International Co.,Ltd (có 23 năm hoạt động trong lĩnh vực trái cây sấy, với sản phẩm chủ lực là sầu riêng) đã chia sẻ với Báo Doanh Nhân Sài Gòn nhân sự kiện Thaifex 2016 rằng, Việt Nam đang là thị trường mục tiêu mà Sunshine muốn hướng đến.
Theo đại diện Sunshine, hiện khách hàng chính của DN tại Thái Lan là khách du lịch, trong đó đáng chú ý là khách du lịch đến từ Trung Quốc. "Những năm gần đây, khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam ngày càng nhiều, nên chúng tôi muốn khai thác thị trường Việt Nam, dù biết rằng Việt Nam cũng có những vùng trồng sầu riêng, nhưng điều khiến chúng tôi tự tin là hương vị sầu riêng Việt Nam không ngon bằng của Thái Lan", phía Sunshine tự tin khẳng định.
Khác với hai DN vừa nêu, Sookasem - nhà sản xuất các loại nước sốt, bánh ngọt và gia vị Thái Lan với các thương hiệu Molly, Lilly, Chilli và Kai chia sẻ, thương hiệu nước sốt của Sookasem đã có mặt tại thị trường Việt Nam 4 năm qua và được người tiêu dùng ưu chuộng. Hiện Sookasem tập trung để đưa thêm nhiều loại nước sốt không chỉ thông qua hệ thống bán lẻ của Thái tại Việt Nam mà còn thông qua các đại lý.
Tại Thaifex 2016, nhiều DN cho thấy tỷ lệ xuất khẩu chiếm đến 90% doanh số của công ty nhưng khi hỏi đến thị trường Việt Nam đều cho rằng chưa có ý định "đánh mạnh", dù sản phẩm của họ đã có mặt nhiều ở thị trường châu Á như Malaysia, Hàn Quốc, Hong Kong, Lào, Campuchia.
Dù không nói rõ nhưng những khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ đã khiến nhiều DN trong ngành thực phẩm của Thái Lan chưa muốn du nhập vào Việt Nam. Song hiện nay cùng với sự hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý và sự "dọn đường" của một số tỷ phú, DN Thái Lan sẽ mạnh bước hơn vào thị trường Việt Nam.

Chia sẻ với bạn ngành điều Việt Nam: Lớn nhưng không mạnh

Bên cạnh những khó khăn chung của ngành, ở góc độ DN, ông Vũ Thái Sơn cho rằng, nhiều chính sách trong quản lý hiện nay đang gây khó khăn cho sản xuất và xuất khẩu điều. Ông dẫn chứng, điều nhập khẩu về là để sản xuất xuất khẩu mà vẫn bị hải quan ghi nợ thuế 275 ngày, sau đó DN phải chứng minh đây là hàng xuất khẩu thì mới được bỏ thuế. "Việc này không chỉ gây tốn kém, mà lỡ có sai sót là bị cán bộ hải quan "làm khó"".
Nhập khẩu 2/3 nguyên liệu
Năm 2015, Việt Nam xuất khẩu 328.819 tấn điều nhân, kim ngạch hơn 2,4 tỷ USD. Hiện Việt Nam là quốc gia xuất khẩu điều lớn nhất thế giới, chiếm 50% thị phần điều toàn cầu. Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, trong 4 tháng đầu năm 2016, Việt Nam xuất khẩu được 90.600 tấn điều, trị giá 688 triệu USD (tăng 14,7% so với cùng kỳ 2015).
Mới đây, trong khuôn khổ hội nghị "Ngành điều chuyển mình đón vận hội mới: Nói tới điều sạch - nghĩ tới Việt Nam", Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) cho biết cả nước hiện có khoảng 1.000 cơ sở chế biến hạt điều và 371 đơn vị xuất khẩu, công suất chế biến khoảng 1,2 triệu tấn, chiếm khoảng 40% công suất chế biến của thế giới.
Tuy nhiên, điều nghịch lý là hiện nay ngành điều Việt Nam chỉ chủ động được 1/3 nguyên liệu sản xuất, còn lại phải nhập khẩu từ Campuchia và phần lớn từ châu Phi, đặc biệt là Bờ Biển Ngà. Trong 4 tháng đầu 2016, Việt Nam đã nhập khẩu gần 207.000 tấn hạt điều, tăng gần 5% so với cùng kỳ 2015, đạt kim ngạch trên 323 triệu USD, tăng trên 22% so với cùng thời điểm năm trước.
Nói về thực trạng ngành điều Việt Nam, ông Nguyễn Đức Thanh - Chủ tịch Vinacas, cho rằng ngành điều Việt Nam được đánh giá có kim ngạch xuất khẩu lớn nhưng không mạnh vì thiếu đoàn kết. Là "người khổng lồ” nhưng lại bị ép giá, đến các nhà cung cấp nguyên liệu cũng gây khó khăn cho DN Việt Nam. Tại sao họ làm được như vậy? Vì có những DN của nước ta qua đó "làm loạn" thị trường.
Ông Vũ Thái Sơn - đại diện Công ty CP Long Sơn với doanh số xuất khẩu khoảng 180 triệu USD/năm - nhận định, ngành điều Việt Nam có 3 cái nhất: xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất. Nhưng do tình trạng không đoàn kết, DN mạnh ai nấy làm đã khiến cho cả ngành điều gặp bất lợi trên thị trường quốc tế.
Trước vấn đề này, ông Sơn cho rằng, trong hai đến ba năm tới, ngành điều Việt Nam vẫn sẽ duy trì được lợi thế nguyên liệu trong nước và từ Campuchia, song trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt do sự phụ thuộc quá nhiều vào vùng nguyên liệu, dự báo khoảng năm 2020 sẽ gặp khó khăn lớn, và nguy cơ mất khả năng cạnh tranh là hoàn toàn có thể.
Theo ông Sơn, đến một lúc nào đó khi các DN nước ngoài đầu tư vào chế biến, họ sẽ có sản lượng lớn điều nhân xuất khẩu, tức DN Việt Nam thiếu trầm trọng nguyên liệu để sản xuất. "Điều này đã từng xảy ra cách đây khoảng 10 năm. Cần lưu ý là Trung Quốc đang lôi kéo DN Việt Nam đầu tư vào lĩnh vực này ngay tại châu Phi", ông Sơn cảnh báo.
Bên cạnh những khó khăn chung của ngành, ở góc độ DN, ông Vũ Thái Sơn cho rằng, nhiều chính sách trong quản lý hiện nay đang gây khó khăn cho sản xuất và xuất khẩu điều. Ông dẫn chứng, điều nhập khẩu về là để sản xuất xuất khẩu mà vẫn bị hải quan ghi nợ thuế 275 ngày, sau đó DN phải chứng minh đây là hàng xuất khẩu thì mới được bỏ thuế. "Việc này không chỉ gây tốn kém, mà lỡ có sai sót là bị cán bộ hải quan "làm khó"".
"Đổi vận" cho điều
Chia sẻ về giải pháp nhằm hạn chế thực trạng thiếu đoàn kết giữa cộng đồng DN ngành điều, ông Nguyễn Đức Thanh cho hay, để hạn chế tình trạng bị ép giá khi mua điều thô, hiện nay các DN ngành điều tại tỉnh Long An đang tập hợp thành một nhóm mua với số lượng khoảng 100.000 tấn/năm và một hoặc hai DN đại diện đứng ra đàm phán.
Theo đó, ông Thanh mong muốn DN điều ở các địa phương khác cũng nên áp dụng theo phương thức này. Lãnh đạo Vinacas còn thông tin, thời gian qua nhiều DN nhập khẩu hạt điều của Việt Nam "xù” hợp đồng, gây khó khăn cho sản xuất. Thế nhưng, nguyên nhân của vấn đề là do chính DN nước ta chưa chặt chẽ trong những điều khoản khi soạn thảo hợp đồng. Hoặc ký trước hợp đồng khi mùa vụ chưa tới mà không có ràng buộc với đối tác, nếu có khởi kiện cũng chỉ thua. Theo ông Thanh, Vinacas có soạn sẵn mẫu hợp đồng để các DN tham khảo. Đây là mẫu hợp đồng chặt chẽ, rất ràng buộc.
Đại diện Tổ chức Vina Control - đơn vị chuyên kiểm định chất lượng nông sản cho Vinacas nói: "Hiện nay nhiều DN ký hợp đồng nhập khẩu điều thô với độ ẩm 12%, chắc chắn những lô hàng này về Việt Nam sẽ bị thối, mốc. Nguyên nhân vì không có tiền lệ trả hàng không đạt chất lượng mà thường chỉ đàm phán giảm giá. Vì vậy, phía Vina Control khuyến cáo, DN nên ký hợp đồng với độ ẩm dưới 10%".